Tổng quan nghiên cứu

Tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, ngành chăn nuôi lợn đóng vai trò trụ cột trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, trực tiếp đóng góp vào tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản với mức 47,7% tổng giá trị sản xuất toàn huyện năm 2019. Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện đã tăng trưởng từ 722.447 triệu đồng năm 2017 lên hơn 1.000 tỷ đồng vào năm 2019 với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt từ 15,0% đến 16,6%. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2017 - 2019, ngành chăn nuôi lợn thịt địa phương đối mặt với nhiều khó khăn nghiêm trọng: tổng đàn lợn giảm từ trên 19.000 con xuống còn 17.508 con vào năm 2019 với tốc độ phát triển bình quân chỉ đạt 93,63%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng giảm từ 2.678 tấn năm 2017 xuống 2.332 tấn năm 2019, đạt tốc độ bình quân 93,32%.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ tính tự phát, quy mô hộ nhỏ lẻ chiếm ưu thế, sự thiếu liên kết giữa các tác nhân, nguy cơ dịch bệnh bùng phát (đặc biệt là Dịch tả lợn Châu Phi), giá thức ăn chăn nuôi gia tăng và sự phân phối lợi nhuận thiếu công bằng trong chuỗi. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị lợn thịt; đánh giá toàn diện thực trạng sản xuất, chế biến, lưu thông và phân phối giá trị gia tăng của các tác nhân trên địa bàn huyện Ba Chẽ; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị theo hướng an toàn sinh học và phát triển bền vững.

Nghiên cứu được triển khai tại 8 đơn vị hành chính (gồm 7 xã và 1 thị trấn) thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh. Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2017 - 2019, kết hợp điều tra khảo sát dữ liệu sơ cấp thực địa từ tháng 06/2019 đến tháng 10/2019. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc tối ưu hóa tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm (hiện tại 70% nội vùng và 30% ngoại vùng), nâng cao giá trị gia tăng thuần cho hơn 10.855 lao động nông nghiệp và định hướng quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba nền tảng lý thuyết quản trị và kinh tế học nông nghiệp hiện đại:

Thứ nhất, Khung phân tích chuỗi giá trị của Michael Porter (1985), tiếp cận chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp thông qua chuỗi các hoạt động gia tăng giá trị nội bộ từ thiết kế, cung ứng vật tư đầu vào, sản xuất, phân phối đến dịch vụ bán hàng nhằm tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững.

Thứ hai, Phương pháp tiếp cận Phân tích ngành hàng (Filière approach) khởi xướng từ những năm 1960 bởi các nhà kinh tế học nông nghiệp Pháp (tiêu biểu như Fabre), tập trung phân tích sự dịch chuyển của các luồng vật chất, mạch hàng vật lý và cơ chế phân phối thu nhập giữa các tác nhân kinh tế từ điểm khởi đầu đến người tiêu dùng cuối cùng.

Thứ ba, Khung lý thuyết Chuỗi giá trị toàn cầu của Raphael Kaplinsky (1999) và Gary Gereffi (1994, 2003), kết hợp bộ cẩm nang 8 công cụ phân tích chuỗi giá trị phục vụ người nghèo (M4P). Nghiên cứu chuẩn hóa 5 khái niệm chuyên ngành cốt lõi gồm: Chuỗi giá trị (Value Chain), Chuỗi cung ứng (Supply Chain với 4 đặc trưng của Lambert và Cooper năm 2000), Chuỗi nông sản thực phẩm (Agri-food Chain), Tác nhân kinh tế (Actors) và Giá trị gia tăng (Value Added - VA cùng Giá trị gia tăng thuần - NVA). Mô hình này đặt trong bối cảnh toàn tỉnh Quảng Ninh hiện có tổng đàn lợn dao động từ 1 triệu đến 1,2 triệu con tại 122.889 hộ gia đình, trong đó chăn nuôi gia trại chiếm tới 60% sản lượng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa hai kênh: Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Ba Chẽ giai đoạn 2017 - 2019, các báo cáo chuyên đề của Phòng Nông nghiệp & PTNT, Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện và Đề án 196 thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia 135; Nguồn dữ liệu sơ cấp được điều tra qua phỏng vấn trực tiếp từ tháng 06/2019 đến tháng 10/2019.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định là 92 mẫu khảo sát. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng (Stratified Sampling) theo từng nhóm tác nhân dọc theo chuỗi giá trị nhằm đảm bảo tính đại diện thống kê: 50 hộ chăn nuôi lợn thịt, 7 thương lái thu gom, 8 cơ sở giết mổ (gồm 2 lò mổ tập trung và 6 hộ giết mổ nhỏ lẻ), 5 hộ tiểu thương bán lẻ tại chợ, 2 hộ chế biến giò chả ruốc và 20 hộ gia đình tiêu dùng thịt lợn.

Phương pháp phân tích kinh tế chuỗi giá trị kết hợp phân tích ma trận SWOT được lựa chọn làm công cụ chủ đạo. Lý do lựa chọn phương pháp kinh tế chuỗi là khả năng định lượng chính xác chi phí trung gian (IC), doanh thu (TR), giá trị gia tăng (VA) và lợi nhuận thuần (NVA) của từng tác nhân, từ đó chỉ ra sự chênh lệch lợi ích kinh tế trong chuỗi. Phân tích SWOT cho phép nhận diện có hệ thống điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của vùng miền núi Ba Chẽ. Toàn bộ dữ liệu sơ cấp được nhập liệu, tổng hợp và xử lý định lượng trên phần mềm chuyên dụng Microsoft Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cấu trúc chuỗi giá trị và kênh tiêu thụ mang tính hướng nội rõ rệt. Sản phẩm thịt lợn Ba Chẽ vận hành qua 4 kênh hàng chính, trong đó tỷ trọng tiêu thụ nội vùng chiếm khoảng 70%, tiêu thụ ngoại vùng (chuyển sang các thị trường phụ cận như Lạng Sơn, Bắc Giang, Cẩm Phả, Hạ Long) chiếm 30%. Tỷ lệ lợn thương phẩm đạt trọng lượng tiêu chuẩn xuất chuồng từ 120 kg đến 150 kg/con chỉ chiếm khoảng 10% tổng đàn, được phân phối trực tiếp đến tay người tiêu dùng qua hệ thống chợ truyền thống và một phần nhỏ qua kênh siêu thị trong tỉnh.

Thứ hai, xu hướng suy giảm đàn lợn và sự thu hẹp mô hình sản xuất. Trong giai đoạn 2017 - 2019, quy mô đàn lợn toàn huyện giảm liên tục với tốc độ phát triển bình quân 93,63%, từ mức trên 19.000 con xuống còn 17.508 con vào năm 2019; sản lượng thịt hơi xuất chuồng giảm từ 2.678 tấn xuống 2.332 tấn (tốc độ bình quân đạt 93,32%). Hình thức chăn nuôi gia trại dù chiếm 60% sản lượng toàn tỉnh nhưng tại Ba Chẽ đang có xu hướng teo tóp, phần lớn nông hộ quay về hình thức nuôi kết hợp tận dụng phụ phẩm gia đình để giảm thiểu rủi ro thua lỗ.

Thứ ba, khâu giết mổ và chế biến sâu còn thô sơ, quy mô nhỏ lẻ. Toàn huyện Ba Chẽ có hơn 20 cơ sở và điểm giết mổ tập trung với tổng công suất 150 - 200 con/ngày, song phần lớn là các lò mổ thủ công công suất chỉ từ 5 - 20 con/ngày hoặc mổ theo thời vụ. Khâu chế biến thành phẩm sau giết mổ chỉ có 2 hộ kinh doanh giò, chả, ruốc tại thị trấn Ba Chẽ và xã Thanh Sơn hoạt động hoàn toàn bằng phương pháp thủ công, chưa hình thành bất kỳ nhà máy hay cơ sở chế biến công nghiệp nào trên địa bàn.

Thứ tư, bất bình đẳng sâu sắc trong phân bổ giá trị gia tăng và biên lợi nhuận. Hộ chăn nuôi là tác nhân chịu chi phí đầu vào lớn nhất (chiếm trên 70% tổng chi phí trung gian của chuỗi) và gánh chịu 100% rủi ro khi dịch bệnh bùng phát, nhưng lại nhận về tỷ suất giá trị gia tăng thuần (NVA) trên đồng vốn thấp nhất. Ngược lại, thương lái và người bán lẻ chiếm giữ vị thế đàm phán cao, chịu ít rủi ro về vốn và thu được tỷ suất lợi nhuận biên vượt trội.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu được biểu diễn qua sơ đồ luồng hàng và các bảng phân bổ giá trị gia tăng (VA), giá trị gia tăng thuần (NVA) giữa 6 nhóm tác nhân, bức tranh kinh tế thể hiện rõ sự mất cân đối nghiêm trọng. Biểu đồ so sánh chi phí trung gian (IC) và biên lợi nhuận minh chứng rằng người chăn nuôi chịu áp lực kép: vừa chịu giá thức ăn chăn nuôi công nghiệp tăng cao, vừa bị thương lái ép giá thu mua lợn hơi tại chuồng.

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và hạ tầng kỹ thuật đặc thù: Ba Chẽ có địa hình miền núi chia cắt phức tạp với độ cao trung bình 300 - 500 m, độ dốc 20 - 25 độ; hệ thống giao thông đường xã có tới 74,8% là đường đất (chỉ 25,1% được bê tông hóa), khiến chi phí vận chuyển, thu gom lợn sống tăng cao. Thêm vào đó, tác động nặng nề của dịch bệnh và tâm lý sợ rủi ro khiến người dân không dám đầu tư tái đàn quy mô lớn.

So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây, kết quả này hoàn toàn tương đồng với phát hiện của tác giả Phạm Thị Tân (2012) tại Nghệ An và Lê Ngọc Hướng (2012) tại Hưng Yên, khi đều khẳng định hộ chăn nuôi là mắt xích yếu thế nhất trong chuỗi giá trị thịt lợn. Tuy nhiên, khác với vùng đồng bằng Bắc Bộ nơi có các mô hình liên kết hợp đồng chính thống theo nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Sơn (2009), tại huyện Ba Chẽ mối liên kết giữa nông dân, cơ sở giết mổ và doanh nghiệp tiêu thụ gần như chưa tồn tại, tỷ lệ giao dịch có hợp đồng kinh tế bằng văn bản đạt xấp xỉ 0%. Điều này phản ánh rõ nét tính chất sản xuất tiểu nông tự phát, thiếu tính tổ chức và đòi hỏi sự can thiệp thể chế mạnh mẽ từ chính quyền địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung và chuyển đổi phương thức an toàn sinh học. Ủy ban nhân dân huyện Ba Chẽ chủ trì, phối hợp với Phòng Nông nghiệp & PTNT và Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp rà soát quỹ đất, thiết lập 3 đến 5 vùng chăn nuôi lợn tập trung xa khu dân cư trong giai đoạn 2021 - 2025. Mục tiêu đưa tổng đàn lợn toàn huyện phục hồi và đạt quy mô trên 25.000 con vào năm 2025, trong đó 100% trang trại, gia trại tập trung bắt buộc phải lắp đặt hệ thống xử lý chất thải bằng hầm biogas, đệm lót sinh học và hồ điều hòa đạt chuẩn vệ sinh môi trường.

Thứ hai, thành lập hợp tác xã kiểu mới và thúc đẩy liên kết hợp đồng chuỗi. Hội Nông dân huyện phối hợp với Phòng Kinh tế & Hạ tầng vận động thành lập 2 đến 3 Hợp tác xã chăn nuôi lợn thịt trong giai đoạn 2021 - 2023. Các hợp tác xã đứng ra làm đầu mối ký kết hợp đồng liên kết 3 nhà (Doanh nghiệp - Hợp tác xã - Nông hộ) với các tập đoàn thức ăn chăn nuôi lớn (như C.P, Dabaco) nhằm mua chung vật tư đầu vào giúp giảm 15% chi phí thức ăn, đồng thời nâng tỷ lệ sản lượng thịt lợn tiêu thụ qua hợp đồng bao tiêu chính thức từ dưới 5% hiện nay lên ít nhất 40% vào năm 2023.

Thứ ba, nâng cấp hệ thống giết mổ tập trung và phát triển sản phẩm chế biến sâu đạt chuẩn OCOP. Chi cục Thú y tỉnh phối hợp cùng UBND huyện Ba Chẽ tiến hành sắp xếp, quy hoạch lại hơn 20 điểm giết mổ nhỏ lẻ thành 2 cơ sở giết mổ tập trung bán công nghiệp giai đoạn 2022 - 2024. Đồng thời, Phòng Nông nghiệp & PTNT hỗ trợ chuyển giao công nghệ, vốn vay ưu đãi cho các hộ chế biến tại thị trấn Ba Chẽ và xã Thanh Sơn để nâng cấp máy móc sản xuất giò, chả, ruốc đóng gói hút chân không, phấn đấu đến năm 2024 có ít nhất 2 sản phẩm chế biến từ thịt lợn Ba Chẽ đạt chứng nhận OCOP 3 sao trở lên và kiểm soát kiểm dịch thú y đạt 100% lượng lợn giết mổ thương phẩm.

Thứ tư, hoàn thiện hạ tầng giao thông nội đồng và xúc tiến thương mại nông sản. UBND huyện Ba Chẽ lồng ghép nguồn vốn Chương trình 135 và Đề án 196 để cứng hóa 100% các tuyến đường giao thông liên thôn, đường nội đồng phục vụ vận chuyển nông sản giai đoạn 2021 - 2025. Sở Công Thương và Trung tâm Xúc tiến Thương mại tỉnh Quảng Ninh hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu chứng nhận thịt lợn an toàn Ba Chẽ, mở rộng mạng lưới tiêu thụ sang hệ thống siêu thị nội tỉnh tại Hạ Long, Cẩm Phả và các tỉnh lân cận, nâng tỷ trọng tiêu thụ ngoại huyện từ 30% lên 45% tổng sản lượng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách địa phương (UBND huyện Ba Chẽ, Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Quảng Ninh, Phòng Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Chăn nuôi và Thú y). Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện từ 92 mẫu khảo sát giai đoạn 2017 - 2019 để xây dựng Đề án phát triển nông nghiệp bền vững, quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung an toàn sinh học và phân bổ hiệu quả ngân sách từ Chương trình Mục tiêu Quốc gia 135 và Đề án 196.

Nhóm thứ hai, các hợp tác xã, doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp và chủ trang trại chăn nuôi lợn. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng các phân tích chi phí trung gian (chiếm trên 70% tổng chi phí) và cơ cấu tỷ suất lợi nhuận của 4 kênh thị trường để thiết kế mô hình liên kết khép kín, tối ưu hóa quy trình chăn nuôi lợn thương phẩm đạt chuẩn xuất chuồng 120 - 150 kg/con nhằm giảm thiểu chi phí trung gian và phòng ngừa rủi ro thị trường.

Nhóm thứ ba, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Phát triển nông thôn. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về việc ứng dụng tích hợp khung phân tích chuỗi giá trị M4P, phương pháp chọn mẫu phân tầng và kỹ thuật lượng hóa giá trị gia tăng (VA, NVA) áp dụng cho ngành hàng chăn nuôi tại địa bàn miền núi đặc thù.

Nhóm thứ tư, các tổ chức phát triển nông thôn, cán bộ khuyến nông cơ sở và hộ nông dân khởi nghiệp tại địa phương. Công trình cung cấp giải pháp thực hành chăn nuôi an toàn dịch bệnh, kinh nghiệm phát triển chuỗi giá trị thịt lợn gắn với Chương trình OCOP nhằm nâng cao thu nhập và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng 9 dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến đàn lợn và sản lượng thịt hơi tại Ba Chẽ sụt giảm mạnh trong giai đoạn 2017 - 2019 là gì? Sự sụt giảm quy mô đàn từ trên 19.000 con xuống 17.508 con (tốc độ phát triển bình quân 93,63%) và sản lượng thịt từ 2.678 tấn xuống 2.332 tấn chủ yếu do tác động của Dịch tả lợn Châu Phi, thời tiết miền núi diễn biến phức tạp và giá thức ăn tăng cao, khiến 60% hộ nuôi quy mô gia trại thua lỗ và buộc phải thu hẹp sản xuất.

Tác nhân nào nắm giữ tỷ suất sinh lời cao nhất và tác nhân nào chịu thiệt thòi lớn nhất trong chuỗi giá trị thịt lợn Ba Chẽ? Phân tích kinh tế từ 92 mẫu điều tra chứng minh người bán lẻ và thương lái đạt tỷ suất giá trị gia tăng thuần (NVA) cao nhất nhờ chi phí đầu tư thấp và khả năng chuyển dịch mặt hàng linh hoạt. Ngược lại, 50 hộ chăn nuôi chịu rủi ro cao nhất khi gánh trên 70% chi phí trung gian toàn chuỗi nhưng thường xuyên bị ép giá khi xuất bán lợn hơi.

Thịt lợn tại huyện Ba Chẽ hiện nay đang được tiêu thụ qua những kênh thị trường nào và tỷ lệ phân bố ra sao? Sản phẩm thịt lợn Ba Chẽ lưu thông qua 4 kênh hàng chính với 70% sản lượng tiêu thụ nội vùng và 30% xuất bán ngoại vùng (chủ yếu sang Lạng Sơn, Bắc Giang, Cẩm Phả, Hạ Long). Lợn thương phẩm đạt chuẩn 120 - 150 kg/con được thu mua qua thương lái, đưa tới hơn 20 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ rồi phân phối tới các chợ dân sinh và siêu thị.

Những rào cản lớn nhất về hạ tầng và cơ chế liên kết đối với ngành chăn nuôi huyện Ba Chẽ là gì? Rào cản hạ tầng thể hiện qua tỷ lệ đường giao thông xã bằng đường đất chiếm tới 74,8% cùng độ dốc địa hình 20 - 25 độ làm tăng chi phí vận chuyển. Về mặt thể chế, tỷ lệ liên kết hợp đồng chính thức giữa hộ chăn nuôi và doanh nghiệp gần như bằng 0%, các lò mổ công suất nhỏ 5 - 20 con/ngày hoạt động tự phát thiếu kiểm soát thú y.

Đâu là giải pháp đột phá để nâng cao giá trị gia tăng cho thịt lợn Ba Chẽ gắn liền với chương trình OCOP? Nghiên cứu đề xuất quy hoạch lại hơn 20 lò mổ thủ công thành 2 lò mổ tập trung bán công nghiệp, hỗ trợ công nghệ chế biến sâu cho các hộ sản xuất giò, chả, ruốc tại thị trấn Ba Chẽ và xã Thanh Sơn. Mục tiêu đến năm 2024 đạt chuẩn kiểm dịch 100% và đưa ít nhất 2 sản phẩm thịt lợn đạt chứng nhận OCOP 3 sao.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý thuyết chuỗi giá trị nông sản M4P, phương pháp phân tích ngành hàng Filière và ứng dụng thành công vào đánh giá ngành hàng thịt lợn tại địa bàn miền núi.
  • Phân tích chi tiết thực trạng suy giảm quy mô đàn lợn xuống 17.508 con và sản lượng thịt hơi còn 2.332 tấn năm 2019 do dịch bệnh, giá thức ăn tăng và địa hình chia cắt phức tạp.
  • Nhận diện sự mất cân đối kinh tế nghiêm trọng khi hộ chăn nuôi gánh trên 70% chi phí trung gian nhưng nhận về tỷ suất lợi nhuận thấp nhất so với khâu thương lái và bán lẻ.
  • Xác lập cấu trúc dòng luân chuyển hàng hóa với 70% tiêu thụ nội vùng, chỉ ra các điểm nghẽn lớn tại hơn 20 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ và sự thiếu vắng chế biến sâu công nghiệp.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi gồm: quy hoạch vùng an toàn sinh học, xây dựng hợp tác xã liên kết hợp đồng, hiện đại hóa cơ sở giết mổ và xúc tiến thương mại gắn với OCOP.

Đóng góp chính của luận văn là cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác và luận cứ khoa học vững chắc đầu tiên về chuỗi giá trị lợn thịt tại huyện Ba Chẽ, mở ra hướng đi đột phá cho tiến trình tái cơ cấu nông nghiệp miền núi tỉnh Quảng Ninh.

Về lộ trình triển khai tiếp theo, giai đoạn 2021 - 2023 địa phương cần tập trung kiện toàn tổ chức hợp tác xã và hợp đồng liên kết chuỗi; giai đoạn 2023 - 2025 hoàn thành xây dựng 2 lò mổ bán công nghiệp, chuẩn hóa sản phẩm OCOP và mở rộng đàn lợn đạt quy mô 25.000 con.

Các nhà quản lý, doanh nghiệp nông nghiệp và các nhà nghiên cứu hãy liên hệ và khai thác toàn văn luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Hoàng để ứng dụng hiệu quả các mô hình định lượng và giải pháp chính sách vào thực tiễn địa phương.