CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ 1. Hành vi ngôn ngữ 1. Khái niệm Trong giao tiếp, con người thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhau bằng cách sử dụng ngôn ngữ.
Các hành động này tuy được thể hiện hết sức đa dạng nhưng đều được gọi chung là các hành vi ngôn ngữ. Mối liên hệ giữa ngôn ngữ – hành vi con người là hiển nhiên, trong nghiên cứu ngữ dụng học, loại hành vi này không thể bỏ qua. Theo Austin, một trong những nhà ngôn ngữ học đầu tiên nêu lên lý thuyết hành vi ngôn ngữ, ngôn ngữ gồm có 3 loại hành vi: hành vi mượn lời (acte perlccutoire), Hành vi tạo lời (acte locutoire), Hành vi ở lời (acte illocutoire). Những vấn đề này được Austin nêu lên từ năm 1955.
Sau đó ông tập hợp lại và xuất bản rộng rãi vào năm 1962. Quan điểm hành vi ngôn ngữ này của ông đã tạo ra một hướng nghiên cứu mới của lĩnh vực ngữ dụng học. Tiếp theo Austin, John R. Searle, nhà triết học ngôn ngữ người Mỹ đã tiếp tục phát triển lý thuyết hành vi ngôn ngữ.
Ông cho rằng mỗi hành vi ngôn ngữ phải tuân theo những điều kiện nhất định. Khi thực hiện một hành vi ngôn ngữ cũng có nghĩa thực hiện đồng loạt ba hành vi: hành vi phát ngôn, hành vi mệnh đề, hành vi ở lời. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam đã trình bày khái niệm hành vi ngôn ngữ như sau: Theo Đỗ Hữu Châu: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 e 10 nói ra một phát ngôn cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C” [6; 88].
Nguyễn Thiện Giáp gọi hành vi ngôn ngữ là hành động ngôn từ, ông cho rằng: “Các hành động được thực hiện bằng lời là hành động ngôn từ. Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn” [13; 337-338]. Trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, hành vi ngôn ngữ được các nhà nghiên cứu định nghĩa là: “Một đoạn lời nói có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó”[41; 107]. Như vậy, hành vi ngôn ngữ chính là một hành động sử dụng ngôn từ nhằm tác động đến người tiếp nhận lời trong giao tiếp; nó gắn liền với hoạt động nói năng của con người và mang tính chất xã hội.
Các loại hành vi ngôn ngữ a. Hành vi tạo lời Là hành động nói tạo ra một chuỗi các âm thanh có nghĩa làm thành nội dung mệnh đề (nội dung phán đoán) trong lời. Từ đó ý nghĩa của lời được xác lập. Đây là phần ý nghĩa biểu thị nội dung mệnh đề.
Hành vi mượn lời Là những hành động “mượn” phương tiện ngôn ngữ, đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc chính người nói. Hành động mượn lời khi thực hiện một phát ngôn là hành vi nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lý (xúc động, yên tâm, bực mình, phấn khởi.), trong hành động vật lý có thể quan sát được gây ra một tác động nào đấy đối với ngữ cảnh. Hành vi ở lời Hành vi ở lời (còn được gọi là hành động ngôn trung) là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng nhằm gây ra những hiệu quả ngôn ngữ, tức là chúng ta gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nhận. Đó là hành động nói được thực hiện bằng một lực thông báo của một phát ngôn (lực ngôn trung) thể hiện mục đích giao tiếp nhất định của lời (đích ngôn trung) như trần thuật, hỏi, cầu khiến làm nên ý nghĩa ngôn trung.
Đích ngôn trung và lực ngôn trung đều được dùng làm tiêu chí nhận diện hành động ngôn trung bởi vì cùng một mục đích ngôn trung lại có thể được thực hiện bằng những lời mang lực ngôn trung khác nhau. Ba loại hành vi này có hiệu quả khác nhau trong lời nói. Hành vi mượn lời tạo hiệu quả ngoài lời. Hành vi tạo lời tạo tác ra lời nói bằng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu… Với hành vi ở lời hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận.
Như vậy, hành vi ở lời khác với hành vi tạo lời và hành vi mượn lời ở chỗ chúng thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại. Chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi hành vi ở lời đó được thực hiện. Khi thực hiện một phát ngôn, người nói thực hiện ba loại hành vi này, trong đó hành vi ở lời được các nhà ngữ dụng học quan tâm nhất, đồng thời đây là loại hành động tạo nên sắc thái giao tiếp phong phú, chính vì vậy ở luận văn này chúng tôi chỉ đi sâu vào phân tích, khảo sát đối tượng nghiên cứu hành vi ở lời. Hành vi ở lời 1.
Điều kiện thực hiện các hành vi ở lời Đỗ Hữu Châu định nghĩa:“Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích e 12 hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó” [6; 111]. Theo Austin, điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là các điều kiện “may mắn”, nếu chúng được đảm bảo thì hành vi mới “thành công”, đạt hiệu quả. Sau khi điều chỉnh và bổ sung vào những điều kiện may mắn của Austin, Searle đã gọi chúng là những điều kiện sử dụng hay điều kiện thoả mãn. Ông cho rằng có bốn điều kiện sử dụng các hành vi ở lời sau: a.
Điều kiện nội dung mệnh đề chỉ ra bản chất nội dung của hành động. Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảo nghiệm, xác tín hay miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với câu hỏi khép kín, tức những câu hỏi chỉ có hai khả năng có hoặc không; phải, không phải…). Nội dung của mệnh đề có thể là hành động của người nói (hứa hẹn), hay một hành động của người nghe (lệnh, yêu cầu). Điều kiện nội dung chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về mối quan hệ giữa người nói, người nghe.
Ví dụ khi ra lệnh, người nói phải tin rằng người nhận lệnh có khả năng thực hiện hành động quy định trong lệnh…sự hứa hẹn có ý muốn thực hiện lời hứa và người nghe cũng thực sự mong muốn lời hứa được thực hiện. Khảo nghiệm, xác tín, không những đòi hỏi người nói nói một cái gì đó đúng mà còn đòi hỏi anh ta phải có những bằng chứng. Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng của người phát ngôn. Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; lệnh đòi hỏi lòng mong muốn; hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói….
Điều kiện căn bản đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời đó được phát ra. Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều được nói ra).2 Phân loại hành vi ở lời Có hai loại hành vi ở lời: hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp. Hành vi ở lời trực tiếp Theo Đỗ Hữu Châu, hành vi ở lời trực tiếp là: “.các hành vi ngôn ngữ chân thực, nghĩa là các hành vi được thực hiện đúng với các điều kiện sử dụng, đúng với các đích ở lời của chúng đúng với các điều kiện sử dụng” [6; 145]. George Yule thì quan niệm: “Chừng nào có mối liên hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng, thì ta có một hành động nói trực tiếp” [43; 110] và Nguyễn Thiện Giáp cũng có chung quan điểm như vậy.
Ví dụ 1 Chờ cho ráo giọt mồ hôi Cầm tay tỏ thiệt rằng tôi yêu mình. [368] Đây là lời phát ngôn bộc lộ trực tiếp tình cảm yêu thương của người con trai dành cho người con gái. Đích của hành động và hành vi lời nói tương hợp với nhau. Động từ ngữ vi “yêu” thể hiện rõ tình cảm và động tác “cầm tay” có sự tương đồng với nhau nhằm bộc lộ tình cảm thầm kín của chủ thể trữ tình.
Hành vi ở lời gián tiếp Sử dụng hành vi ở lời trực tiếp sẽ hạn chế được hiện tượng mơ hồ về nghĩa, song trong cuộc sống không phải lúc nào chúng ta cũng có thể nói thẳng ra ý định của mình. Chính vì vậy chúng ta hay mượn hành vi ngôn ngữ này để biểu đạt hiệu quả ở lời của một hành vi ngôn ngữ khác tạo thành hành vi ở lời gián tiếp. Vấn đề này đã được Austin, Searle và nhiều nhà ngôn ngữ trên thế giới quan tâm nghiên cứu và làm sáng tỏ hơn. Thuật ngữ hành vi ở lời gián tiếp là do Searle đặt ra.
một hành vi ở lời được thực hiện gián tiếp thông qua một hành vi ở lời khác sẽ được e 14 gọi là một hành vi gián tiếp” [9; 60]. George Yule và Nguyễn Thiện Giáp cũng có cùng quan điểm mà Searle đặt ra. Nguyễn Đức Dân lại cho rằng: “Một hành vi ngôn ngữ được gọi là gián tiếp khi dạng thức ngôn ngữ của hành vi tại lời không phản ánh trực tiếp mục đích của điều muốn nói” [9; 229]. Hành vi ở lời gián tiếp được Đỗ Hữu Châu quan niệm như sau: “Trong thực tế giao tiếp, một phát ngôn thường không phải chỉ có một đích ở lời.
Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành vi ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp.