phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng, 8 tiết. 11 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƢỜI 1. KHÁI NIỆM GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƢỜI 1. Khái niệm quyền con ngƣời Quyền con ngƣời - Nhân quyền là một phạm trù lịch sử.
Từ thời cổ đại những tƣ tƣởng và yêu sách về các quyền, mà trƣớc hết yêu sách về các quyền con ngƣời đã đƣợc phát sinh ở vùng Địa Trung Hải là nơi có nền văn minh, kinh tế phát triển rực rỡ nhất lúc bấy giờ. Sau khi các quyền con ngƣời đƣợc triển khai ở các quốc gia trong vùng và khu vực xung quanh rồi mới xâm nhập vào xã hội châu Âu cổ đại và châu Âu mới. Năm 1776, hầu hết các nƣớc thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ đã tuyên bố độc lập với đế chế Anh. Trong một văn bản có tên là "Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ", đã khẳng định: ".
tất cả mọi ngƣời sinh ra đều bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm đƣợc, trong những quyền đó có quyền đƣợc sống, quyền tự do và quyền mƣu cầu hạnh phúc" [93, tr. Nhƣ vậy, trong lịch sử phát triển của quyền con ngƣời, Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 có thể đƣợc coi là sự xác nhận chính thức, đầu tiên về mặt nhà nƣớc về quyền con ngƣời. Khi đánh giá về văn kiện này, C.Mác đã cho rằng: Nƣớc Mỹ - đó là nơi "lần đầu tiên xuất hiện ý tƣởng về một nƣớc cộng hòa dân chủ vĩ đại thống nhất, bản tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên đã đƣợc công bố và đã có sự thúc đẩy đầu tiên đối với cuộc cách mạng châu Âu thế kỷ XVIII" [57, tr.
Tuyên ngôn này là cơ sở để xây dựng nên bản Hiến pháp của Mỹ năm 1787. Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, vấn đề nhân quyền càng trở nên bức xúc và trở thành mối quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở đó, 12 z ngày 24-10-1945 tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời và đã thông qua bản "Hiến chƣơng Liên Hợp Quốc" với mục đích chính là vì vấn đề quyền con ngƣời trên phạm vi toàn cầu. Tiếp đến, tháng 12-1948 Liên Hợp Quốc đã công bố bản "Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền".
Trên cơ sở này, hàng loạt văn kiện quốc tế về nhân quyền đƣợc tuyên bố, ký kết và trở thành luật pháp quốc tế về quyền con ngƣời. Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thì Việt Nam đã có một lịch sử truyền thống lâu đời, trải qua suốt quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc về sự hình thành và đảm bảo quyền con ngƣời. Tuy nhiên, phải đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công mới thực sự mở ra một kỷ nguyên mới về quyền con ngƣời, thời kỳ mà quyền con ngƣời đƣợc đề cao, đƣợc chính thức ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật. Mặc dù vấn đề quyền con ngƣời đã đƣợc hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại.
Ở Việt Nam cũng vậy, nhƣng do nó đƣợc nhìn nhận dƣới những góc độ khác nhau (triết học, chính trị học, kinh tế học, luật học.), xuất phát từ những mục đích, màu sắc tƣ tƣởng, lãnh địa chính trị của các quốc gia khác nhau; nên mặc dầu đã có nhiều hội thảo quốc tế, nhiều công trình nghiên cứu, nhƣng khái niệm quyền con ngƣời vẫn tồn tại một cách trừu tƣợng, chung chung và ngày càng trở nên mơ hồ, rắc rối hơn. Do đó, nhận thức đúng đắn, đầy đủ về khái niệm quyền con ngƣời và nội dung của nó chính là cơ sở, nền tảng để xây dựng phƣơng hƣớng, nội dung, phƣơng pháp, điều kiện cho việc thực hiện giáo dục quyền con ngƣời ở nƣớc ta hiện nay. Khái niệm quyền con người (Nhân quyền) "Nhân quyền" là một từ Hán Việt, theo "Đại Từ điển Tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ học thì "Nhân quyền" là "quyền con ngƣời" [104, tr. Từ điển này mới chỉ giải trình đơn thuần nghĩa Hán - Việt của từ Nhân quyền, mà chƣa đề cập đến khái niệm của vấn đề này theo nghĩa đƣợc khái quát hóa từ những đặc điểm, nội dung, tính chất đặc thù của nó.
13 z Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con ngƣời, mỗi định nghĩa là một sự biểu hiện khác nhau về góc độ nhìn nhận về vấn đề nhân quyền. Tuy nhiên, tổng hợp lại các quan niệm đó đƣợc phân chia thành ba quan niệm chủ yếu, khác nhau về quyền con ngƣời nhƣ sau : - Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con ngƣời là một thực thể tự nhiên, nên quyền con ngƣời phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền", nghĩa là quyền con ngƣời, quyền lợi của con ngƣời với tƣ cách là ngƣời, gắn liền với cá nhân con ngƣời, không thể tách rời. Quan điểm này đƣợc các đại biểu tƣ tƣởng của giai cấp tƣ sản ở thế kỷ XVII, XVIII nhƣ Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên. Trƣờng phái này cho rằng, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà nƣớc.
- Về quan niệm thứ hai: Trái với quan niệm thứ nhất, quan niệm này lại chỉ đặt con ngƣời và quyền con ngƣời trong mối quan hệ xã hội. Quan niệm này cho rằng, con ngƣời chỉ là một thực thể xã hội, nên quyền của nó chỉ đƣợc xác định trong mối tƣơng quan với các thực thể xã hội khác và vì là quan hệ xã hội nên nó đƣợc chế độ nhà nƣớc, pháp luật điều chỉnh bảo vệ. Quan niệm này có tính tích cực khi coi quyền con ngƣời là một khái niệm có tính lịch sử, đặt con ngƣời trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì con ngƣời là thực thể của xã hội, có mối quan hệ phổ biến với xã hội nên quyền con ngƣời cũng luôn gắn liền với đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh chống bạo lực, chống bất công trong xã hội.
Cơ sở của quyền con ngƣời ở đây chính là trình độ phát triển của nền kinh tế, văn hóa, xã hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội quyết định. - Quan niệm thứ ba: Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề quyền con ngƣời. Quan niệm này đã khắc phục đƣợc tính phiến diện, phản khoa học về con ngƣời, quyền con ngƣời ở các quan niệm trên. 14 z Xuất phát từ quan niệm coi con ngƣời vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, con ngƣời mặc dù vẫn là một thực thể tự nhiên nhƣ các loài động vật khác, nhƣng lại khác với loài động vật khác ở chỗ con ngƣời chỉ thực sự tồn tại với tƣ cách là một con ngƣời khi nó đƣợc tồn tại trong cộng đồng xã hội.
Hai mặt này tồn tại biện chứng trong một con ngƣời. Trong cái tự nhiên của con ngƣời có mặt xã hội và trong cái xã hội của con ngƣời có mặt tự nhiên. Mặt này trở thành tiền đề cho mặt kia trong mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời. Xuất phát từ quan niệm này về quyền con ngƣời nên chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con ngƣời: "Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [65, tr.
Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con ngƣời là "động vật xã hội" [63, tr. 855] có khả năng "tái sinh ra con ngƣời", con ngƣời là động vật cao cấp nhất trong quá trình tiến hóa. Do đó, về mặt này, cũng nhƣ quan niệm thứ nhất, quyền con ngƣời trƣớc hết là một thuộc tính tự nhiên. Quyền con ngƣời không phải là một "tặng vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà nƣớc mà quyền con ngƣời trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản chất tự nhiên, đƣợc thể hiện ở quyền đƣợc sống, quyền tự do, quyền đƣợc sáng tạo, phát triển, quyền đƣợc đối xử nhƣ con ngƣời, xứng đáng với con ngƣời.
Xét về mặt thứ hai của quan niệm này, con ngƣời mặc dù là động vật cao cấp nhất của tự nhiên, nhƣng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp, con ngƣời đã sống thành bầy đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội. Trong luận cƣơng thứ VI về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho rằng: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngƣời là tổng hòa những quan hệ xã hội" [64, tr. Nhƣ vậy, con ngƣời mặc dù vẫn là thực thể tự nhiên sinh học, là bộ phận của tự nhiên, nhƣng bên cạnh đó, để đƣợc gọi là ngƣời nó còn phải tồn tại trong cộng đồng xã hội, và biến đổi cùng với cộng đồng xã hội của mình. Bằng khả năng của mình, con ngƣời tác động vào tự nhiên, xã hội làm biến đổi tự nhiên 15 z và xã hội để phục vụ nhu cầu tự tồn tại, phát triển của mình.
Ngƣợc lại, những biến đổi của tự nhiên, của xã hội do con ngƣời tạo ra cũng tác động chi phối trở lại con ngƣời, làm biến đổi con ngƣời. Do đó xét về khía cạnh xã hội, thì "quyền con ngƣời, ngay từ khi có xã hội loài ngƣời, bên cạnh bản tính tự nhiên còn in đậm bản tính xã hội" [65, tr. Khi xã hội hình thành giai cấp, hình thành nhà nƣớc đã tạo ra những chuyển biến có tính "bƣớc ngoặt" trong sự biến đổi mối quan hệ tƣơng quan giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của quyền con ngƣời. Đi kèm xã hội có giai cấp là mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp; do đó, trong điều kiện xã hội có giai cấp thì bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp.
Và ngay cả bản tính tự nhiên, những giá trị phổ biến của quyền con ngƣời cũng tất yếu chịu sự chi phối của giai cấp thống trị xã hội. Mặt khác, quyền con ngƣời, kể cả quyền tự nhiên, bẩm sinh còn bị ràng buộc, chi phối vào chính khả năng khám phá chinh phục tự nhiên của chính con ngƣời, nghĩa là phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của con ngƣời, sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Con ngƣời càng có khả năng chế ngự, chinh phục thiên nhiên bao nhiêu thì tự do, quyền con ngƣời ngày càng đƣợc mở rộng, ngày càng đƣợc đảm bảo bấy nhiêu. Từ quan điểm trên cho thấy, về bản chất, quyền con ngƣời bao gồm cả quyền tự nhiên và quyền xã hội.