phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của giáo dục pháp luật cho ngƣời dân tộc thiểu số Chƣơng 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho ngƣời dân tộc thiểu số tại tỉnh Thanh Hóa Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục pháp luật cho ngƣời dân tộc thiểu số tại tỉnh Thanh Hóa hiện nay 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm giáo dục pháp luật Trong quá trình phát triển của khoa học xã hội, khái niệm GDPL đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập. Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” đƣợc biết đến với từ “education” - một từ gốc Latin đƣợc gh p bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” - “Ex-Ducere”.
Thuật ngữ này có nghĩa là dẫn “Ducere” con ngƣời vƣợt ra khỏi “Ex” hiện tại của họ để vƣơn tới những gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn. Theo Từ điển Bách khoa, giáo dục là “quá trình đào tạo con ngƣời một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con ngƣời tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, đƣợc thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài ngƣời” [14, tr. Đại Từ điển tiếng Việt thì định nghĩa: Giáo dục là tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con ngƣời, để họ dần dần có đƣợc những phẩm chất và năng lực nhƣ yêu cầu đề ra [34, tr. Ở Việt Nam, từ góc độ thuật ngữ, Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Giáo dục pháp luật là sự tác động định hƣớng của tổ hợp các quá trình xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, tuyên truyền, giải thích pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật” [14, tr.
Theo Giáo trình lý luận về Nhà nƣớc và pháp luật của một số cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật trong nƣớc GDPL đƣợc định nghĩa là: “là hoạt động có định hƣớng, có mục đích trang bị kiến thức pháp luật, nhằm hình thành ở đối tƣợng đƣợc giáo dục những tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp 13 với yêu cầu của pháp luật” [20, tr. 106] ho c là “Sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thƣờng xuyên tới nhận thức của con ngƣời nhằm trang bị cho mỗi ngƣời một trình độ kiến thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật” [20, tr. Nhƣ vậy, hai hƣớng tiếp cận này có điểm chung khi xác định mục tiêu của GDPL. Nghiên cứu GDPL với tƣ cách là nhân tố trong quá trình hình thành ý thức cá nhân con ngƣời và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình đó, GDPL đƣợc quan niệm là “sự tác động một cách có tổ chức theo một hệ thống và có mục đích rõ rệt lên mỗi thành viên của xã hội, nhằm hình thành một cách bền vững ý thức pháp luật và những thói quen tích cực trong mọi hành vi xử thế của con ngƣời trong đời sống cộng đồng” [18].
GDPL còn đƣợc tiếp cận dƣới góc độ là kết quả của điều kiện, hoàn cảnh và giáo dục, theo đó GDPL là quá trình ảnh hƣởng của những nhân tố khách quan, sự tác động có mục đích, hệ thống và thƣờng xuyên của chủ thể giáo dục tới đối tƣợng giáo dục nhằm trang bị cho đối tƣợng kiến thức pháp luật để họ có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và xử sự theo yêu cầu của pháp luật [13] Theo nghĩa rộng, GDPL đƣợc coi là một bộ phận, một hệ thống con của hệ thống giáo dục nói chung, là một hoạt động có tính độc lập tƣơng đối và có mối quan hệ tƣơng hỗ với các hệ thống con khác nhƣ kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức. tạo nên một hệ thống các quan hệ xã hội tác động đến cá nhân, làm hình thành nên bản chất lịch sử - xã hội của con ngƣời. Quan niệm GDPL này xuất phát từ nghĩa rộng nhất của thuật ngữ GDPL, đồng nhất GDPL với quá trình xã hội hóa cá nhân trong môi trƣờng có sự tác động, điều chỉnh của pháp luật và các chuẩn mực xã hội khác. Nhân cách con ngƣời đƣợc hình thành, phát triển do tác động, ảnh hƣởng của tổ hợp các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, pháp luật, đạo đức, phong tục, tập quán, lễ nghi.
trong quá trình các cá nhân tham gia vào những quan hệ xã hội đó [29, tr. 14 Theo nghĩa hẹp, tác giả Nguyễn Quốc Sửu lại cho rằng: “Giáo dục pháp luật theo nghĩa hẹp là quá trình tác động hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của nhà giáo dục chủ thể giáo dục pháp luật để chuyển tải, truyền đạt những nội dung thông tin, tri thức về các bộ luật, đạo luật… thông qua các phƣơng pháp giáo dục khoa học và hình thức giáo dục phù hợp tới đối tƣợng tiếp nhận giáo dục pháp luật nhằm đạt đƣợc những mục tiêu, hiệu quả giáo dục nhất định” [23, tr. Tác giả Trần Thị Sáu cho rằng: “Giáo dục pháp luật là hoạt động thực tiễn xã hội thực hiện sự tác động một cách thƣờng xuyên, hệ thống lên đối tƣợng giáo dục nhằm trang bị kiến thức, xây dựng thái độ, niềm tin pháp luật một cách đúng đắn đồng thời giáo dục k năng thích ứng cũng nhƣ xử lý các tình huống trong cuộc sống theo pháp luật, thúc đẩy mọi công dân tự giác và chủ động thực hiện nghiêm minh pháp luật” [22, tr. Nhìn chung, khái niệm GDPL đƣợc các nhà khoa học tiếp cận rất đa dạng, theo mục đích, theo nhân tố, theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng… Và theo phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm GDPL đƣợc hiểu là: GDPL là quá trình hoạt động có định hƣớng, có mục đích, có kế hoạch của cơ quan, ngƣời có thẩm quyền nhằm xây dựng, hình thành ở đối tƣợng giáo dục tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý, niềm tin vào pháp luật, hiểu biết các quy định của pháp luật, lợi ích của việc tuân thủ pháp luật, về hành vi phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.
Khái niệm giáo dục pháp luật cho người dân tộc thiểu số Khái niệm dân tộc thiểu số Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về dân tộc và dân tộc thiểu số đƣợc giới thiệu trong nhiều giáo trình chuyên ngành, tài liệu nghiên cứu, … đ c biệt là những tài liệu liên quan đến vấn đề dân tộc và các nhóm dân tộc thiểu số ở nƣớc ta hiện nay. Trong khuôn khổ đề tài này, học viên trình bày khái niệm mang tính đ c trƣng và đƣợc phổ biến rộng rãi. 15 Từ điển Bách hoa Việt Nam đƣa ra định nghĩa: “Dân tộc hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội đƣợc chỉ đạo bởi một nhà nƣớc, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu đƣợc hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc ngƣời của bộ phận tộc ngƣời. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phƣơng thức sản xuất khác nhau…”.
Cùng đó, từ điển bách khoa Việt Nam đƣa ra định nghĩa dân tộc thiểu số nhƣ sau: “Dân tộc còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc ngƣời… cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau liên kết với nhau bằng những đ c điểm ngôn ngữ, văn hóa, và nhất là ý thức tự giác tộc ngƣời”. Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đƣa ra một số định nghĩa liên quan đến dân tộc thiểu số nhƣ sau: - Dân tộc thiểu số “là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nƣớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Dân tộc đa số là “dân tộc có số dân chiếm trên 50 tổng số dân của cả nƣớc”. - Dân tộc thiểu số rất ít ngƣời “là dân tộc có dân số dƣới 10.000 ngƣời” - Vùng dân tộc thiểu số “là địa bàn có đồng các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nƣớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” [11] Nhƣ vậy, có thể hiểu khái niệm “dân tộc thiểu số” luôn đƣợc đề cập trong mối quan hệ với khái niệm “dân tộc đa số” và để chỉ mối tƣơng quan về số lƣợng ngƣời.
Theo số liệu điều tra thống kê năm 2019, nƣớc ta có 53 dân tộc thiểu số với tổng số dân là 14,123 triệu ngƣời, chiếm 14,7 dân số cả nƣớc. Quy mô dân số không đồng đều, có 6 dân tộc trên 1 triệu ngƣời gồm Tày, Thái, Mƣờng, Mông, Nùng, hmer; 16 dân tộc dƣới 10.000 ngƣời, trong đó có 5 dân tộc dƣới 1.000 ngƣời là Ơ Du, Brâu, Rơ Măm, Pu P o và Si La. 16 Khái niệm giáo dục pháp luật cho người dân tộc thiểu số Từ những phân tích các khái niệm ở trên, học viên hiểu khái niệm GDPL cho ngƣời dân tộc thiểu số là hoạt động có định hƣớng, có tổ chức, do các chủ thể GDPL tiến hành theo chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp và hình thức nhất định phù hợp với truyền thống văn hóa, tôn giáo, tín ngƣỡng, tập quán sản xuất, sinh hoạt của ngƣời DTTS; làm hình thành ở họ ý thức pháp luật, tình cảm pháp luật và hành vi phù hợp với các yêu cầu của pháp luật hiện hành; góp phần xây dựng, củng cố ý thức về quyền con ngƣời, quyền công dân của ngƣời DTTS để họ có thể tiếp cận, bảo vệ các quyền đó một cách hiệu quả. Chủ thể, đối tƣợng, đặc trƣng và nội dung giáo dục pháp luật cho ngƣời dân tộc thiểu số 1.
Chủ thể giáo dục pháp luật cho người dân tộc thiểu số Chủ thể GDPL nói chung và GDPL cho ngƣời DTTS trên địa bàn tỉnh nói riêng là tổ chức, cá nhân theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội phải tham gia vào việc thực hiện các mục đích pháp luật. Nguồn nhân lực cho công tác này rất đa dạng, khác nhau về ngành nghề, trình độ, chuyên môn, hiểu biết pháp luật và k năng nghiệp vụ.