CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VA THUC TIEN CUA DE TAI 1,1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Năng lực và năng lực giải quyết vẫn đề 1. Khái niệm năng lực 'Có nhiều tác giả đã định nghĩa khái niệm “năng lực”, có thể kể đến: ‘Theo P.
Rudich (1986) NL la tính chất tâm sinh lý của con người chỉ phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. Gerard và Roegiers (1993) đã coi NL. là một sự tích hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó một cách tích hợp và một cách tự nhiên. De Ketele (1995) cho ring NL la một tập hợp trật tự các kĩ năng (các hoạt động) tác động lên một nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra [8, tr.
Xavier Roegiers (1996) quan niệm NL là một vấn đề tích hợp ở chỗ nó bao. hàm cả những nội dung, những hoạt động cần thực hiện và những tình huống trong. đó diễn ra các hoạt động cần thực hiện và những tình huống trong đó diễn ra các. hoạt động [46, tr.91] Theo John Erpenbeck, NL được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả, năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và thực hiện hóa qua chủ định.
Weitnert (2001), NL là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội.và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có. trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huồng linh hoạt [8, tr44] Nếu lấy dấu hiệu tố chất tâm lý đẻ định nghĩ thì NL được định nghĩa như sau: NL là một thuộc tính tích hợp của nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp. Nếu lấy dấu hiệu vẻ các yếu tố tạo thành khả năng hành động để định nghĩa, thì NL được định nghĩa như sau: “NL là khả năng vận dụng. những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống” [8, tr.
‘Theo Dự thảo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể (2015) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, NL được định nghĩa là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chi,. NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống [11]. Nhu vay, đủ cách phát biểu có khác nhau, nhưng các cách trên đều khẳng, định: khi đề cập đến NL là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm (know- how), chit khéng chi biết và hiểu (know-what) [8]. Đặc điểm chung của NL.
'Qua nghiên cứu các định nghĩa về NL, có thể thấy NL có một số đặc điểm chung: ~ NL là tỗ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân: NL không phải chỉ là một thuộc tính, đặc điểm nào đó của cá nhân mà nó bao gồm những thuộc tính tâm lý và sinh lý [9] ~ NL đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thé, do một con người cu thể thực hiện (NL học tập, NL tư duy, NL tự quản lý bản thân,. Như vậy không tổn tai NL chung chung. ~ Có sự tác động của một tác nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thê (kiến thức, quan hệ xã hội,.) để có một sản phẩm nhất định; do đó có thể phân biệt người này. với người khác ~ NL là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể.
NL chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thê. Vì thế, NL vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong. chính hoạt động đó. Quá trình dạy học, giáo dục nhằm hình thành, rèn luyện, phát triển NL ở cá nhân tất yếu phải đưa cá nhân tham gia vào hoạt động.
Biểu hiện của NL Ia bit sử dụng các nội dung và các kĩ năng trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không ở tiếp thu lượng tri thức rời rac [8]. Cấu trúc của NL. Từ khái niệm và phân tích đặc điểm của NL, chúng ta thấy cấu trúc của NL thể hiện ở các cách tiếp cận sau: ~ Về bản chất, NL là khả năng chủ thể kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức hợp lý các kiến thức, kĩ năng, với thái độ, giá trị, động cơ. nhằm dap img yêu cầu phức tạp của một hoạt động, đảm bảo cho hoạt động đó có chất lượng trong một bối cảnh (tình huống) nhất định.
~ Về mặt biểu hiện, NL thể hiện bằng sự biết sử dụng các kiến thức, kĩ năng, thái độ và giá tri, động cơ trong một tình huống có thực chứ không phải là sự tiếp thu các tri thức rời rạc, tách rời tình huông thực tức là thê hiện trong hành vi, hành. động và sản phẩm. có thể quan sát được, đo đạc được. ~ Về thành phần cấu tạo, NL được cấu thành bởi các thành tố: kiến thức, kĩ năng, thái độ và giá trị, tình cảm và động cơ cá nhân, tư chất.
Việc xây dựng chuẩn NL thực hign (Performance based competency standards) thường sử dụng mô hình các đơn vị của NL. (Units of Competency): i) Cac hợp phần của NL (Components of Competeney) là các lĩnh vực chuyên môn (domain) thể hiện khả năng tiềm ân của con người. Mỗi hợp phần là mô tả khái quát của một hoặc nhiều hoạt động, điều kiện hoạt động. ii) Các thành tố của NL (Elements of Competeney) là các kĩ năng cơ bản, kết hợp với nhau tạo nên mỗi hợp phân, thường được bắt đầu với động từ mô tả rõ ràng.
giá trị của hoạt động. iii) Chỉ số hành vi (Behavioral indicator): yêu cầu cần thực hiện của mỗi thành tố và mức độ thành thạo ở mỗi yêu cầu đó, gọi là gọi là tiêu chí chất lượng (quality criteria) [9] Các yếu tổ cầu thành NL được thể hiện ở hình 1. Mô hình các yếu tố cấu thành của một NL [9, tr. NL chung va NL chuyén biệt của môn Sinh học NL chung là những NL cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho moi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp như: NL nhận thức, NL trí tuệ, NL về ngôn ngữ và tính toán, NL giao tiếp, NL vận động,.
NL nay duge hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau [8] “Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2015), chương trình giáo dục phổ thông nhằm hình thành và phát triển cho HS 8 NL chung chủ yếu sau: (1) NL tự học, (2) NL GQVĐ và sáng tao, (3) NL thẩm mỹ, (4) NL thể chất, (5) NL giao tiếp, (6) NL hợp tác, (7) NL tính toán, (8) NL. công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) [11] 20 * NL chuyên biệt trong giáo dục. NL chuyén biệt là những NL. được hình thành và phát triển trên cơ sở các NL.
chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công. việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt đông như toán học, âm nhạc, my thuật, thể thao,. NL chuyên biệt vừa là mục tiêu, vừa là "đơn vị thao tác” trong, các hoạt động dạy học, giáo dục góp phần hình thành và phát triển các NL chung {8}, (9, t.13] * NL chuyên biệt của môn Sinh học “Theo nghiên cứu để xuất của trường đại học Vietoria (Úc) thì hệ thống các NL sinh học bao gồm 4 nhóm NL chính như sau: ~ Tri thức về sinh học (Biology knowledge): là những kiến thức và kĩ năng cần thiết để có thể đảm nhận một công việc trong lĩnh vực Sinh học (GV Sinh học, nhà nghiên cứu Sinh học,.) hoặc có thể học sau đại học về lĩnh vực sinh học như kiến thức về sự đa dạng sinh học ở mọi cấp độ từ gen, tế bào, cơ quan, co thé, sự tương tác. giữa các cá thể, quan thé, q xã và hệ sinh thái.
~ NL nghiên cứu: biết và sử dụng được các nguyên lý của phương pháp. nghiên cứu khoa học, áp dụng được các phương pháp thực nghiệm để giải quyết vấn đề khoa học. Nghiên cứu lý thuyết, tông hợp tài liệu và đánh giá được các tài liệu khoa học. ~ NL thực địa: sử dụng được các quy tắc và kĩ thuật an toàn để thực hiện các.
nghiên cứu trong môi trường. Dự đoán, lập kế hoạch thực địa. Chuẩn bị các phương. tiện, thiết bị cần thiết để thực địa.
Sử dụng các bản đồ thực địa và xác định được đúng những vị trí cần nghiên cứu trong môi trường. Sử dụng được các thiết bị thực. địa để quan sát, xác định các thông số, thu thập và xử lý mẫu. ~ NL thực hiện trong phòng thí nghiệm: sử dụng được các quy tắc và kĩ thuật an toàn để thực hiện các nghiên cứu trong phòng thí nghigm [8] Có thể thấy rằng, việc vận dụng các NL chuyên biệt trong môn sinh học để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn học tập của HS và thực tiễn lao động sản xuất trong đời sống chính là NL GQVĐ trong dạy học sinh học.
Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề Theo Reeff, NL GQVD la NL suy nghi và hành động trong những tình huống, không có sẵn cách thức và trình tự giải quyết. Việc GQVĐ có mục tiêu rõ rằng nhưng tại thời điểm đó, chưa biết cách làm thế nào để đạt được mục tiêu đó. hiểu rõ tình huống có vấn đề và từng bước giải quyết nó dựa trên việc lập kế hoạch và lập luận hình thành quá trình GQVĐ.7] “Theo chương trình đánh giá HS quốc tế - PISA (2012), NL GQVD li kha năng. một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống có vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng.
Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào giải quyết tình huống vấn để đó ~— thể hiện tiềm năng là công dân tích cực và xây dung.