mở đầu cho sự khám phá mới của thiền và trị liệu trong lĩnh vực của cuộc sống phƣơng Tây. PP thiền của Suziki là một liệu pháp phân tâm học nhằm giải thoát con ngƣời khỏi những triệu chứng thần kinh, những ức chế và những sự khác thƣờng trong tính cách con ngƣời [50]. Nghiên cứu sự thực hành năm giới cho thanh thiếu niên tại Thái Lan về việc sử dụng rƣợu, Newman và cộng sự (2006) đã tiến hành phỏng vấn 20 trƣờng hợp cá nhân, tổ chức cho 80 học sinh tham dự phỏng vấn và điều tra bằng bảng hỏi đối với 2.064 học sinh phổ thông tại 03 tỉnh của Thái Lan về việc uống rƣợu và thái độ đối với việc uống rƣợu. Kết quả cho thấy, thanh niên thực hành Năm giới ít uống rƣợu hơn, ít rơi vào trạng thái say rƣợu, đồng thời có thái độ không đồng tình với việc uống rƣợu [3].
Nghiên cứu về áp dụng PP thiền Anapana (Thiền Định), Ronal Alexander (2009) đã chủ trƣơng thực tập thiền tỉnh giác về hơi thở của PG để rèn luyện tâm thức, tăng cƣờng nghị lực và sự kiên nhẫn. Ông khẳng định lợi ích của thiền Anapana là: “Khi làm bất kỳ việc gì, tự nhiên khả năng tập trung đó sẽ đƣợc phát huy. Và quyết tâm, kiên trì bền bỉ sẽ đóng góp rất lớn cho sự thành công” [4]. ErickTsiknopouls (2013) trình bày 04 phƣơng pháp GD (Tứ nhiếp pháp) mang lại lợi ích trong cuộc sống mọi ngƣời, gồm: Rộng lƣợng; Lời lẽ dễ thƣơng; Hành động có lợi; Hành động giống nhau.
Erick cho rằng: “Bốn phương pháp hướng dẫn là những công cụ mang lại lợi ích cho người khác thông qua phương tiện của chính họ như một tác nhân tích cực trong cuộc sống, tham gia và liên quan đến những 8 người khác và chúng sinh hữu tình. Bốn phương pháp này có thể sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau và cho các mục đích khác nhau” [65]. Thanissaro (2018) nghiên cứu về ảnh hƣởng của việc thờ Phật tại nhà đối với thanh thiếu niên Anh quốc, đã có 417 thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 13 đến 20 tham gia trả lời trực tiếp bảng hỏi đƣợc phát hành tại các chùa hoặc trả lời qua mạng xã hội Facebook. Kết quả cho thấy, 70% thanh thiếu niên sống trong gia đình có không gian thờ Phật tại nhà có thái độ kính trọng cha mẹ và thực hành tu tập thƣờng xuyên hơn.
Số thanh niên này có thái độ vui vẻ và có tinh thần tập thể cao hơn ở trƣờng và có thái độ nghiêm khắc đối với việc sử dụng các chất gây nghiện [5]. Tại nƣớc Anh, nghiên cứu về PP chánh niệm đang đƣợc áp dụng trong hầu hết các trƣờng học để cải thiện sức khoẻ và nâng cao thành tích học tập của học sinh. Mặc dù, PP chánh niệm có nguồn gốc từ PG, những tính phổ biến của PP này trong các lớp học và nơi làm việc đã đƣợc lan toả ngày một nhiều và đa dạng tại xứ sở sƣơng mù. Theo The Mindfulness Intiative thì: “Chánh niệm đang được sử dụng trong các trường Trung Tiểu học, Cao đẳng và Đại học, để giúp trẻ em, sinh viên và giảng viên cải thiện sự tập trung, sự chú ý, bản lĩnh giải quyết vấn đề xung đột và khả năng thấu cảm của người học” [2].
Nghiên cứu về PP tiếp cận đạo đức Phật giáo đối với các xã hội bền vững, Kanchan Saxena (2019) cho rằng chúng ta nên vun đắp tình hữu nghị, tình bạn thƣơng mến, lòng từ bi, tinh thần phục vụ đồng bào và những phẩm chất tính cảm khác mà đã đƣợc đức Phật giảng dạy trong kinh điển. Kanchan nhấn mạnh để xây dựng một xã hội bền vững cần dựa trên các giá trị cơ bản nhất định, đó là giá trị đạo đức Phật giáo cung cấp môi trƣờng lành mạnh và hoà bình [46]. Tóm lại, các nghiên cứu trên chỉ tập trung vào các phƣơng pháp thực hành thiền định, chánh niệm tĩnh giác. Chỉ có nghiên cứu của Thanissaro (2018) và Newman (2006) đã nhắc đến hình thức thực hành ngũ giới và PP giáo dục qua không gian thờ cúng tại gia đình.
Tuy nhiên, các PP, hình thức GDĐĐPG cho TNPT cho đến nay ít đƣợc các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm. Vì thế về PP và hình thức giáo dục chƣa phong phú và đa dạng. Tại Việt Nam Phật giáo là một tôn giáo có quá trình tồn tại cùng dân tộc Việt Nam gần 2000 năm. Cho nên đã có đóng góp hữu ích cho sự phát triển của đất nƣớc và dân tộc.
Bên cạnh đó, GDĐĐPG cho thanh niên tin đồ đã trở thành đề tài nghiên cứu thu hút nhiều học giả trong nƣớc. Các nghiên cứu có thể chia thành hai nhóm chính: Nghiên cứu nội dung GDĐĐPG và nghiên cứu PP, hình thức GDĐĐPG cho TNPT. Thứ 1: Nghiên cứu nội dung giáo dục đạo đức Phật giáo Ấn phẩm Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành (1993) gồm 37 bài viết của nhiều tác giả khác nhau. Nội dung chủ yếu đề cấp đến nội dung GDĐĐPG và những đóng góp của chúng trong việc bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá tinh thần cũng nhƣ đời sống xã hội của đất nƣớc trong thời đại hiện nay [17].
Tác phẩm Đạo đức học Phật giáo của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành (1995) gồm 34 bài viết của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc. Hầu hết, những bài viết đều nêu lên những phạm trù cơ bản trong ĐĐPG, làm rõ các nội dung về giới, nhân quả, nghiệp báo, từ bi, thiền định v. Theo các tác giả, trong xu thế ngày nay việc GDĐĐPG là vấn đề cần thiết, và cần đƣợc quan tâm nghiên cứu [16]. Nghiên cứu Phật pháp khái luận, Thích Chơn Thiện (1997) đã trình bày những nội dung cơ bản của GDĐĐPG trong Tứ diệu đế, thuyết nhân quả, luân hồi, v.v và những giá trị sâu sắc khác của ĐĐPG, giúp cho ngƣời học Phật có cái nhìn sâu sắc và khái quát hơn về nội dung ĐĐPG [53].
Nghiên cứu về ảnh hƣởng giáo lý PG trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam, Tạ Chí Hồng (2003) đã khái lƣợt các nét cơ bản trong ĐĐPG nhƣ: luật nhân quả, thuyết nghiệp, triết lý vô ngã, tinh thần Bi - Trí - Dũng. Đặc biệt, tác giả còn phân tích những ảnh hƣởng của PG trong đời sống xã hội Việt Nam và đề xuất một số giải pháp về định hƣớng của ĐĐPG với đời sống xã hội Việt Nam [29]. Ấn phẩm Những gì đức Phật đã dạy của Thích Minh Châu (2007) là tập hợp những bài giảng pháp, những bản dịch về ĐĐPG trên từng lĩnh vực cụ thể của Hoà 10 thƣợng. Tác giả cũng đề cập đến những vấn đề cơ bản về GDĐĐPG nhƣ Giới, Định, Tuệ, giải thoát, hạnh phúc, v.v với mục đích GDĐĐ cho tín đồ Phật tử [10].
Lê Hữu Tuấn (2010) đã phân tích ảnh hƣởng của PG đối với tuổi trẻ ngày nay. Tác giả đã chỉ ra nội dung cơ bản giáo lý PG nhƣ khổ và nguyên nhân của khổ và đặt ra câu hỏi làm sao để giới trẻ sống tốt trong thế giới ngày này đang có nhiều biến đổi. Trên nền tảng giá trị ĐĐPG, tác giả khuyến nghị tuổi trẻ phải dấn thân, đƣơng đầu với khó khăn, phải học, hiểu và thấm nhuần tƣ tƣởng “sự phụ thuộc lẫn nhau” của đạo Phật và điều cần thiết là lập cho mình một đời sống tâm linh [61]. Ấn phẩm Giáo dục đạo đức Phật giáo trong trường học và xã hội của Thích Nhật Từ chủ niên (2019) gồm 37 bài tham luận của các học giả nghiên trong nƣớc.
Các bài tham luận chủ yếu tập trung nói về GDĐĐPG trong xã hội, GDĐĐPG vào nhà trƣờng, GDĐĐPG cho thanh thiếu niên - học sinh và sinh viên[59]. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên tập trung nghiên cứu về nội dung GDĐĐPG qua các giáo lý Phật giáo căn bản nhƣ: Nhân quả, nghiệp báo, Tam vô lậu học, Từ bi,v.v và ảnh hƣởng của Phật giáo đến đạo đức của ngƣời Phật tử tín đồ. Thứ 2: Nghiên cứu phƣơng pháp, hình thức GDĐĐPG cho TNPT Nghiên cứu về xứ mệnh Gia đình Phật tử, Lữ Hồ (1964) đã trình bày mục tiêu thành lập tổ chức Gia đình Phật tử, đó chính là nâng cao giá trị của một phong trào GDĐĐ cho thanh thiếu nhi Phật tử. Việc GDĐĐ cho thanh thiếu nhi không phải bằng PP kinh viện hay độc đoán mà là PP thực tiễn chú trọng vào giáo lý, văn nghệ, hoạt động thanh niên xã hội và kỷ luật của tổ chức nhằm chuyển hoá bản chất hiếu động của tuổi trẻ, rèn luyện ý chi, đạo đức, phụng sự một nhiệm vụ kép: “Tổ quốc và Giáo hội” [28].
Nghiên cứu về giáo dục học Phật giáo, Lý Kim Hoa (2009) đã phân tích tƣ tƣởng, nội dung GDĐĐPG và đồng thời tác giả còn nhắc đến các phƣơng pháp GD nhƣ phƣơng pháp GD từ kinh nghiệm thực tế, phƣơng pháp GD “Thân giáo”, 11 phƣơng pháp GD phân tích tâm lý đối tƣợng giáo dục từ đó đƣa ra hình thức GD phù hợp. Lý Kim Hoa cũng chỉ ra sự tƣơng quan mật thiết giữa văn hoá, chính trị, xã hội với PG và ảnh hƣởng của PG đối với chúng [26]. Nghiên cứu về ảnh hƣởng của giới luật PG trong GDĐĐ cho thanh niên Việt Nam hiện nay, Hoàng Văn Nam (2010) đã phân tích nội dung của Năm giới cho ngƣời Phật tử tại gia và ý nghĩa của giới luật nói chung, tác giả cũng đƣa ra những nhận định về ảnh hƣởng của giới luật PG đối với việc GDĐĐ thanh niên thể hiện ở các khía cạnh: GD tƣ tƣởng ĐĐ, GD niềm tin và lý tƣởng ĐĐ, GD nghĩa vụ và hành vi ĐĐ [36]. Nghiên cứu Vài vấn đề về Phật giáo và Nhân sinh, Thích Chúc Phú (2013) đã làm sáng tỏ một số vấn đề về đạo đức và lối sống: Nghệ thuật giáo tiếp, ứng xử với tiền bạc và tài sản, nghi lễ đời sống, mƣời chuẩn mực đạo đức, chuyển hoá dục vọng, v.v và đƣa ra phƣơng pháp GDĐĐ “Kinh viện” để cải thiện các mối quan hệ thầy - trò, cha mẹ - con cái, vợ - chồng, cá nhân - bạn bè, anh em - thân tộc, quản lý - nhân viên, nhà nƣớc và công dân thông qua những lời dạy của đức Phật trong kho tàng Kinh - Luật - Luận PG [41].