Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động giám sát 1. Khái niệm hoạt động giám sát Trong các quy định pháp luật, giám sát đã được đề cập đến trong một số văn bản như: Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân năm 2015, Nghị định số 49/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ về giám sát, thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp nhà nước trong việc chấp hành pháp luật và các quyết định của chủ sở hữu.
Theo đó “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”; “Giám sát doanh nghiệp nhà nước là hoạt động theo dõi, tổng hợp và phân tích, đánh giá thường xuyên hoặc định kỳ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định về việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước”[57], [26]. Về cơ bản, các quan niệm dù đưa ra hoặc không đưa ra một cách đầy đủ về chủ thể, tiến trình thực hiện, phương thức và các giá trị, tác động của hoạt động giám sát, nhưng đều toát lên được hai nội dung cấu thành cơ bản của giám sát đó là “theo dõi” và “đánh giá”: Giám sát là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra, đánh giá một chủ thể nào đó về một việc làm đã được thực hiện đúng hoặc thực hiện chưa đúng những điều đã quy định để từ đó có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm sai, nhằm đạt được những mục đích hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho các quyết định thực hiện đúng và đầy 9 e đủ. Giám sát thường được chia thành hai loại: Giám sát mang tính quyền lực nhà nước hay còn gọi là giám sát bên trong hệ thống, là loại hình giám sát được tiến hành bởi chủ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một hay một số hệ thống các cơ quan nhà nước khác theo những nguyên tắc nhất định về sự phân công quyền lực nhà nước. Cụ thể là hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đối với Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao và Viện kiểm sát Nhân dân tối cao; là hoạt động giám sát của Hội đồng Nhân dân các cấp đối với cơ quan nhà nước ở địa phương.
Ngoài ra còn có hoạt động giám sát của Viện kiểm sát, Tòa án đối với bộ máy nhà nước thông qua hoạt động truy tố, kiểm sát tư pháp, xét xử và giám sát thông qua hoạt động của các cơ quan thanh tra. Các phương pháp, cách thức mà loại hình giám sát này áp dụng luôn mang tính quyền lực nhà nước và nó trực tiếp mang lại những hậu quả có tính pháp lý. [41] Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước hay còn gọi là giám sát từ bên ngoài là loại hình giám sát được tiến hành bởi các chủ thể phi Nhà nước. Đó là hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, của các cơ quan báo chí, của Nhân dân đối với bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.
10 e Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được hiểu là “giám sát xã hội”. Giám sát xã hội phát hiện cả những việc làm tốt, chưa tốt và chỉ dừng lại ở mức “đánh giá, kiến nghị”, tức là áp dụng các biện pháp tác động mang tính xã hội vào hoạt động của đối tượng bị giám sát (sự nhận xét, đánh giá, kiến nghị từ phía xã hội, từ đó đối tượng bị giám sát tự chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong quá trình hoạt động của mình), không có quyền yêu cầu hoặc bắt buộc cơ quan, tổ chức phải tiến hành xử lý một vụ việc cụ thể nào đó. Việc có xử lý hay không xử lý, xác định kết quả, kiến nghị giám sát đó đúng hay sai phụ thuộc vào quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát theo pháp luật và các quy định hiện hành. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như sau: “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, công chức, viên chức trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý những sai sót, khuyết điểm đồng thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân góp phần kiểm soát quyền lực của Nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước”.
Đặc điểm hoạt động giám sát Đặc điểm chung của Giám sát: - Giám sát là hành vi của chủ thể biểu hiện qua theo dõi, quan sát, xem xét, nhận định về việc làm của đối tượng bị giám sát. - Giám sát mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục. - Sự tác động qua lại giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát có mối quan hệ pháp lý, gắn với quyền và trách nhiệm của mỗi bên. 11 e - Giám sát là một trong những thành phần của sự quản lý có cơ sở khoa học đối với công việc của Nhà nước và xã hội, đảm bảo cho sự vận hành không bị ngắt đoạn của cơ chế quản lý xã hội.
- Tạo tiền đề cho sự hiểu biết sâu sắc và cản trở sự hoạt động tối ưu của hệ thống, là chất xúc tác cho việc nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý. Giám sát do các cơ quan nhà nước thực hiện đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy bộ máy nhà nước gọi là giám sát Nhà nước; giám sát do các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và công dân trực tiếp thực hiện được gọi là giám sá của xã hội hoặc là giám sát của nhân dân. Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không mang tính quyền lực, là giám sát mang tính nhân dân, có một số đặc điểm cơ bản sau: - Thứ nhất, giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời được câu hỏi ai (người hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra những đánh giá, nhận định về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hay sai so với quy định hiện hành; - Thứ hai, giám sát bao giờ cũng cần 02 giai đoạn: Giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra và giai đoạn đánh giá, đưa ra kiến nghị, kết luận. Trong đó, giai đoạn thứ nhất là cơ sở để thực hiện giai đoạn thứ hai.
Nếu giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì việc đánh giá, kết luận sẽ đúng đắn, chính xác và cuộc giám sát sẽ hiệu quả và ngược lại; - Thứ ba, giám sát luôn gắn với một đối tượng cụ thể, đặc điểm cơ bản này cho chúng ta phân biệt giữa giám sát và kiểm tra; - Thứ tư, giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động giám sát. Nội dung của quan hệ này biểu hiện ở những quyền và nghĩa vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu giám sát; - Thứ năm, giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì nếu như thiếu 12 e những quy định này thì chủ thể giám sát không có cơ sở để thực hiện quyền giám sát và tiêu chí để đưa ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu giám sát; - Thứ sáu, giám sát là hoạt động có tính mục đích. Trước hết, mục đích của giám sát là đưa ra những nhận định chính xác của chủ thể giám sát đối với hoạt động của đối tượng chịu giám sát, từ đó có biện pháp xử lý đối với những việc làm sai trái nhằm bảo đảm cho những quy định của pháp luật được thực hiện đúng và có hiệu quả.
Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có ba nhóm chủ thể là: - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp: Chủ trì giám sát đối với các đối tượng và nội dung quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 26 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015. - Các tổ chức chính trị - xã hội (Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh): Chủ trì giám sát các đối tượng và nội dung quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 26 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc quy định của pháp luật. - Các tổ chức thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Tham gia phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thực hiện giám sát đối với các đối tượng và nội dung quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 26 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, quyền và trách nhiệm của tổ chức mình. Tính chất, mục đích và nguyên tắc giám sát Tính chất: Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính nhân 13 e dân và tính xã hội rộng lớn, là một bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát quyền lực ở nước ta.