Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GIÁM SÁT HỢP NHẤT TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Từ cuối thế kỷ XIX, các Tập đoàn kinh tế trên thế giới đã được hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẽ về số lượng, tạo nên những cơ sở vật chất quan trọng cho việc nâng cao tiềm lực kinh tế và ảnh hưởng ngày càng lớn đến sự phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc biệt xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế, sự phát triển của khoa học công nghệ - thông tin và sự nới lỏng của các quy định pháp lý về lĩnh vực tài chính – ngân hàng đã tạo điều kiện cho các TĐTC ra đời. Kể từ khi ra đời các TĐTC đã đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế thế giới, thúc đẩy sự phát triển bền vững cho các quốc gia đó, các quốc gia có sự tham gia sản xuất, cung ứng của các TĐTC. Thực tiễn cho thấy, các tập đoàn tài chính đều là những nhóm tổ chức tài chính lớn hoạt động theo mô hình mẹ con, có quy mô lớn, cấu trúc phức tạp hoạt động đa dạng trên các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và các hoạt động phi tài chính đã nhanh chóng xuất hiện và ngày càng trở thành những thành viên lớn nhất và năng động nhất tham gia thị trường tài chính.
Hơn nữa, quy mô lớn, hoạt động đan xen giữa các sản phẩm tài chính trong nội bộ tập đoàn, cũng như sự phức tạp trong cấu trúc doanh nghiệp của các tập đoàn tài chính có thể đưa đến rủi ro hệ thống nghiêm trọng và do đó có thể đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính. Tại nhiều quốc gia trên thế giới trước đây chỉ ra rằng các cơ quan quản lý, giám sát an toàn tài chính vẫn tiến hành giám sát tập đoàn tài chính theo chuyên ngành, nghĩa là giám sát riêng lẻ các công ty trong tập đoàn tài chính hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng – chứng khoán – bảo hiểm do chưa có khung giám sát nào giải quyết các vấn đề tổng thể giữa các ngành tài chính với nhau ở cấp độ toàn tập đoàn tài chính. Cách tiếp cận giám sát khép kín như vậy làm nảy sinh 12 nhiều khoảng trống và khe hở pháp lý về giám sát đã tạo điều kiện cho các tập đoàn lợi dụng để lách luật. Thêm nữa cách tiếp cận đó cho thấy nhiều hạn chế bởi không tính đến những rủi ro phát sinh hoặc làm trầm trọng thêm ở cấp độ tập đoàn và cũng không tính được việc những rủi ro từ lĩnh vực kinh doanh khác nhau trong tập đoàn tương tác với nhau và ảnh hưởng đến cả tập đoàn như thế nào, tác động đến hệ thống tài chính ra sao.
Tuy nhiên gần đây, nhiều tổ chức tài chính quốc tế uy tín và nhiều quốc gia đã có nhiều thảo luận, thống nhất chung nhằm khuyến cáo về sự cần thiết đưa tập đoàn tài chính vào Luật và tiến hành ban hành các quy định giám sát đối tượng này. Nội dung chương này sẽ tổng kết những kinh nghiệm chung nhất của quốc tế về nhận diện tập đoàn tài chính và giám sát hợp nhất các tập đoàn tài chính.1 Lý luận chung về tập đoàn tài chính 1.1 Khái niệm tập đoàn tài chính tại một số quốc gia trên thế giới 1.1 Quan điểm của diễn đàn Joint Forum Diễn đàn Joint Forum là diễn đàn do Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS), tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán (IOSCO) và Hiệp hội quốc tế về giám sát bảo hiểm (IAIS), diễn đàn cho rằng TĐTC là “bất kỳ nhóm công ty nào cùng chịu sự kiểm soát chung hoặc chịu ảnh hưởng chi phối chung, bao gồm cả công ty nắm giữ vốn có hoạt động chủ yếu là hoạt động tài chính ít nhất là 2 trong 3 lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán hoặc bảo hiểm”. Như vậy cách hiểu này2, TĐTC gồm các đặc điểm sau: một là đó phải là “nhóm các công ty”; hai là, nhóm các công ty này “chịu ảnh hưởng chi phối chung”; ba là, phải “hoạt động ít nhất hai trong số ba lĩnh vực chính là ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm”; bốn là “hoạt động kinh doanh cốt lõi của nhóm các công ty này phải là hoạt động tài chính”. 2 Quan điểm được phát triển từ Báo cáo năm 1995 do Nhóm ba bên (bộ ba cơ quan quản lý Ngân hàng – chứng khoán – bảo hiểm thực hiện thông qua nghiên cứu thực tiễn tại 12 quốc gia (Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà lan, Luxembourg, Mỹ, Nhật, Pháp, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Ý) lên thành tài liệu tham vấn năm của Ủy ban Basel về thanh tra ngân hàng – ngân hàng thanh toán quốc tế BIS với nội dung “Các nguyên tắc thanh tra giám sát các TĐTC”.2 Theo quy định của Châu Âu Theo Ủy ban Châu Âu (2011)[15], tập đoàn tài chính có nghĩa là một tập đoàn, khi mà tổ chức giữ vai trò đứng đầu là một tổ chức được quản lý, hoặc ít nhất một trong những công ty con của tập đoàn đó là một tổ chức được quản lý.
Đồng thời chúng phải đáp ứng các điều kiện sau: Một là, khi đứng đầu tập đoàn là một tổ chức được quản lý, thì: (i) Tổ chức đó phải là công ty mẹ của một công ty trong lĩnh vực tài chính, hoặc là nắm giữ cổ phần tại một công ty trong lĩnh vực tài chính; (ii) Ít nhất có một công ty trong tập đoàn phải ở trong lĩnh vực bảo hiểm và một công ty phải ở trong lĩnh vực ngân hàng hoặc dịch vụ đầu tư; (iii) Hoạt động của các công ty trong lĩnh vực bảo hiểm và/hoặc của các tổ chức trong lĩnh vực ngân hàng và dịch vụ đầu tư đều phải ở mức độ trọng yếu; Hai là, khi đứng đầu tập đoàn không phải là một tổ chức được quản lý, thì: (i) Hoạt động của tập đoàn phải nằm chủ yếu trong lĩnh vực tài chính; (ii) Ít nhất có một công ty trong tập đoàn phải ở trong lĩnh vực bảo hiểm và một công ty phải ở trong lĩnh vực ngân hàng hoặc dịch vụ đầu tư; (iii) Hoạt động của các công ty trong lĩnh vực bảo hiểm và/hoặc của các tổ chức trong lĩnh vực ngân hàng và dịch vụ đầu tư đều phải ở mức độ trọng yếu.3 Theo Quy định của Mỹ Mỹ không có quy định cụ thể về TĐTC như Ủy ban Châu Âu mà chỉ có các quy định về các công ty sở hữu vốn ngân hàng (Bank holding company – BHC) và công ty sở hữu vốn tài chính (Financial holding company – FHC). Theo Luật về Công ty sở hữu vốn ngân hàng (BHC Act) năm 1956, công ty sở hữu vốn ngân hàng (BHC) được định nghĩa là: Bất kỳ một công ty nào trực tiếp hay gián tiếp sở hữu, kiểm soát hoặc nắm giữ ít nhất 25% vốn có quyền biểu quyết của một ngân hàng, nhằm mục đích kiểm soát việc điều hành hoặc ra chính sách của các ngân hàng đó. Ngoài ra, Luật cũng cho phép công ty BHC được quyền sở hữu các công ty phi ngân hàng, tuy nhiên phạm vi hoạt động của các công ty này phải liên quan đến hoạt động ngân hàng, ví dụ cho vay trả góp, 14 cho thuê tài chính, định giá bất động sản, tư vấn tài chính và tư vấn các dịch vụ bảo hiểm. Trong khi đó, công ty sở hữu vốn FHC là một chủ thể tài chính tham gia vào nhiều loại hoạt động tài chính đa dạng bao gồm: khai thác bảo hiểm, tự doanh và bảo lãnh chứng khoán, cung cấp các dịch vụ tư vấn chứng khoán, cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư.
và tham gia vào các hoạt động phi ngân hàng khác. Luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999 quy định một BHC và FHC không được tham gia vào các hoạt động không phải tài chính/ ngân hàng. Như vậy, có thể thấy tại Mỹ, các TĐTC hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực tồn tại chủ yếu dưới hình thức công ty mẹ và công ty sở hữu vốn FHC 1.4 Theo quy định của Hàn Quốc [22] Theo Luật Financial holding company Act – FHC, điều kiện để trở thành tập đoàn tài chính (FHC) như sau: (i) Phải chi phối và hoạt động chủ yếu là phải chi phối công ty tài chính hoặc công ty liên quan mật thiết đến kinh doanh tài chính. (iii) Phải chi phối ít nhất 01 công ty tài chính trở lên và tổng tài sản của FHC phải lớn hơn 500 tỷ KRW.
FHC được phân loại theo các loại thành (1) Bank holding company Atc và Provincial Bank holding company; (2) Non-Bank holding company. Trong Luật cũng quy định: (1) BHC phải chi phối ít nhất một công ty tài chính bao gồm ngân hàng và P-BHC thuộc BFC, chi phối ít nhất một ngân hàng địa phương, không chi phối ngân hàng lớn hoặc BFC. (2) Non-Bank holding company là FHC không chi phối ngân hàng hoặc BHC. Cụ thể được chia thành các công ty bảo hiểm, công ty đầu tư và các Non- Bank holding company khác.
15 Từ các quy định trên Tập đoàn tài chính tại Hàn Quốc được xác định như sau: Là công ty sở hữu vốn chi phối ít nhất 01 công ty con là công ty tài chính, các công ty con này hoạt động 1 trong 3 lĩnh vực ngân hàng, hoặc chứng khoán, hoặc bảo hiểm và có tổng tài sản lớn hơn 500 tỷ KRW.5 Quy định của Singapore [1] Tại Singapore, các TĐTC thường tồn tại dưới dạng nhóm các công ty mẹ - con trong đó công ty sở hữu vốn FHC đóng vai trò là công ty mẹ của TĐTC. Tập đoàn tài chính là một công ty mà có ít nhất một công ty con hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng hoặc bảo hiểm và các công ty con là định chế tài chính chiếm ít nhất 50% tổng tài sản, vốn, công nợ, doanh thu của FHC.2 Quan điểm của Việt nam về TĐTC Hiện nay chưa có văn bản nào quy định về “TĐTC”, tuy nhiên trên thực tế các quy định pháp luật hiện hành đã tạo hành lang pháp lý để hình thành các tập đoàn hoạt động đa ngành, được phép tham gia hoạt động tài chính, thông qua cấu trúc “Tập đoàn kinh tế” – Quy định tại Luật Doanh nghiệp; hay nhóm công ty mẹ - con được quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng, cụ thể như sau: 1.1 Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 + Căn cứ theo Điều 194 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định, Tập đoàn kinh tế, tổng công ty thuộc các thành phần kinh tế là nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác. Tập đoàn kinh tế có công ty mẹ, công ty con và các công ty thành viên khác.