Phần mở đầu - Phần nội dung: gồm 3 chƣơng + Chƣơng I: Cơ sở lý luận về HĐND và hoạt động giám sát của HĐND + Chƣơng II: Thực trạng hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nhiệm kỳ 2011- 2016. + Chƣơng III: Giải pháp tăng cƣờng hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang thời gian tới. - Kết luận - Danh mục tài liệu tham khảo - Mục lục. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 1.
Khái quát chung về Hội đồng nhân dân 1. Khái niệm Hội đồng nhân dân Theo Điều 113, Hiến pháp 2013 quy định “HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nƣớc ở địa phƣơng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phƣơng bầu ra, chịu trách nhiệm trƣớc Nhân dân địa phƣơng và cơ quan Nhà nƣớc cấp trên”. HĐND quyết định các vấn đề của địa phƣơng do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phƣơng và việc thực hiện nghị quyết của HĐND”. HĐND đƣợc tổ chức ở ba cấp: tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi chung là cấp tỉnh); quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi chung là cấp huyện); xã, phƣờng, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Theo Điều 6, Luật tổ chức chính quyền địa phƣơng 2015, quy định: HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri địa phƣơng bầu ra, là cơ quan quyền lực Nhà nƣớc ở địa phƣơng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trƣớc Nhân dân địa phƣơng và cơ quan Nhà nƣớc cấp trên. Đại biểu HĐND là ngƣời đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phƣơng, chịu trách nhiệm trƣớc cử tri địa phƣơng và trƣớc HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. 8 Đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của HĐND. Thƣờng trực HĐND là cơ quan thƣờng trực của HĐND, thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trƣớc HĐND.
Thành viên của thƣờng trực HĐND không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp. Ban của HĐND là cơ quan của HĐND, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trƣớc khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trƣớc HĐND. Điều 53, Luật tổ chức chính quyền địa phƣơng 2015, xác định cơ cấu tổ chức của HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng. Cụ thể: HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng bầu ra.
Thƣờng trực HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng gồm Chủ tịch HĐND, hai phó chủ tịch HĐND và các ủy viên là trƣởng ban của HĐND. HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng thành lập Ban Pháp chế và Ban Kinh tế - Xã hội. Ban của HĐND gồm có trƣởng ban, một phó trƣởng ban và các ủy viên. Các đại biểu HĐND đƣợc bầu ở một hoặc nhiều đơn vị bầu cử hợp thành tổ đại biểu HĐND.
Số lƣợng tổ đại biểu, tổ trƣởng, tổ phó tổ đại biểu do Thƣờng trực HĐND quyết định. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân Bộ máy nhà nƣớc ở địa phƣơng bao gồm: HĐND và UBND đƣợc tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt. Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. HĐND cùng các cơ quan nhà nƣớc ở địa phƣơng thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc theo lãnh thổ, kết hợp với quản lý theo ngành và lĩnh vực, kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhân dân địa phƣơng với lợi ích chung của cả nƣớc.
Trong chính quyền địa phƣơng, HĐND đƣợc xác định là cơ quan quyền lực Nhà nƣớc ở địa phƣơng, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phƣơng bầu ra, chịu trách nhiệm trƣớc Nhân dân địa phƣơng và cơ quan nhà nƣớc cấp trên. Một là, Tính quyền lực nhà nƣớc của HĐND, biểu hiện ở các nội dung sau: HĐND - cơ quan trực tiếp thiết lập nên bộ máy Nhà nƣớc ở địa phƣơng thực hiện việc bầu, miễm nhiệm, bãi nhiệm, chủ tịch, phó chủ tịch và các ủy viên UBND; quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan chuyên môn thuộc UBND (đối với cấp tỉnh, cấp huyện). Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, chủ tịch UBND, HĐND cấp dƣới (đối với cấp tỉnh, cấp huyện). Giải tán HĐND cấp dƣới trực tiếp (đối với cấp tỉnh, cấp huyện).
HĐND thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên địa bàn lãnh thổ đồng thời thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn do cấp trên phân giao. Quyết định của HĐND có tính bắt buộc chung đối với các cơ quan, tổ chức và công dân ở địa phƣơng. UBND ở cấp chính quyền địa phƣơng do HĐND cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng, chịu trách nhiệm trƣớc HĐND và cơ quan nhà nƣớc cấp trên. 10 Hai là, HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phƣơng bầu ra, chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân địa phƣơng và cơ quan nhà nƣớc cấp trên.
Thể hiện các ở các nội dung sau: HĐND là cơ quan duy nhất do cử tri địa phƣơng bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. HĐND là ngƣời đại diện tiếng nói của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn, vì từ những phản ánh, ý kiến, nguyện vọng chính đáng của cử tri, HĐND có trách nhiệm tổng hợp báo cáo lên HĐND cấp trên (thuộc thẩm quyền của cấp trên) và yêu cầu UBND giải quyết, giám sát việc giải quyết các ý kiến của UBND cùng cấp. HĐND là ngƣời đại diện cho trí tuệ, tinh thần và sức mạnh của Nhân dân địa phƣơng; hiểu rõ tâm tƣ, nguyện vọng và các yêu cầu chính đáng của Nhân dân, do đó nắm và quyết định mọi vấn đề sát với thực tế và phù hợp với lợi ích toàn dân nói chung và Nhân dân địa phƣơng nói riêng. HĐND chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân địa phƣơng, các đại biểu HĐND không còn đƣợc Nhân dân tín nhiệm sẽ bị HĐND bãi miễn tƣ cách đại biểu.
Vậy, HĐND là cơ quan nằm trong hệ thống tổ chức chính quyền địa phƣơng, có vị trí hết sức quan trọng trong việc góp phần thực hiện chế độ dân chủ XHCN, xây dựng và quản lý mọi mặt của đời sống nhân dân địa phƣơng về kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh - quốc phòng. là cầu nối giữa Đảng, Nhà nƣớc với Nhân dân, trực tiếp đƣa chủ trƣơng, nghị quyết, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc vào cuộc sống. Chức năng của Hội đồng nhân dân Chức năng của HĐND đƣợc pháp luật quy định là xuất phát từ vị trí, vai trò của HĐND. HĐND thực hiện những nhiệm vụ và sử dụng những quyền hạn theo phân định thẩm quyền, phân quyền, phân cấp và ủy quyền, đảm bảo 11 sự lãnh đạo thống nhất của Trung ƣơng đồng thời phát huy quyền chủ động sáng tạo của địa phƣơng.
HĐND các cấp có các chức năng sau: Thứ nhất, Chức năng quyết định. Chức năng cơ bản nhất của HĐND là căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nƣớc cấp trên để ra các quyết định (dƣới hình thức ban hành nghị quyết) về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND. Cụ thể HĐND quyết định những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của HĐND trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phƣơng, làm tròn nghĩa vụ của địa phƣơng với cả tỉnh. Dựa vào tính chất pháp lý, nghị quyết của HĐND gồm hai loại: nghị quyết quy phạm và nghị quyết cá biệt.
Thứ hai, Chức năng giám sát. Điểm a, khoản 1, điều 5, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND 2015, quy định: HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phƣơng và việc thực hiện nghị quyết HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động của thƣờng trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các ban của HĐND cấp mình; giám sát quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dƣới. Chức năng giám sát của HĐND bao giờ cũng gắn liền với chức năng quyết định. Thực hiện tốt chức năng giám sát không những giúp HĐND kiểm tra, đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc trong việc tuân thủ Hiếp pháp, pháp luật, các nghị quyết của HĐND mà qua đó HĐND phát hiện ra những nội dung chƣa phù hợp, không sát, đúng thực tế của các nghị quyết do HĐND đã ban hành, để sửa đổi, bổ sung.
12 Việc thực hiện chức năng giám sát, đƣợc chính HĐND thực hiện trực tiếp tại các kỳ họp, thông qua các cuộc giám sát của thƣờng trực HĐND, các ban của HĐND, các tổ đại biểu HĐND và các đại biểu HĐND, thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, tiếp công dân của đại biểu HĐND bằng việc theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nƣớc cấp trên và nghị quyết HĐND trong phạm vị thẩm quyền của HĐND. Vì vậy, việc nghiên cứu về chức năng giám sát của HĐND cấp huyện là nội dung chính trong luận văn này, qua đó góp phần nâng lên chất lƣợng và hiệu quả hoạt động của HĐND cấp huyện. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện là gì? Để nhận thức đúng bản chất, đặc điểm, nội dung và chất lƣợng hoạt động giám sát của HĐND thành phố thuộc tỉnh, trƣớc hết cần làm rõ giám sát là gì?