Chương I: Những vấn đề lý luận về HĐND cấp huyện - Chương II: Thực trang chất lượng hoạt động của HĐND huyện Đan Phượng - Chương III. Quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND huyện Dan Phượng trong giai đoạn hiện nay. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE HOI DONG NHAN DAN CAP HUYEN 1. Khái quát về quá trình hình thành va phat triển của HĐND huyện ở Việt Nam qua các thời kỳ 1.
Hội đồng nhân dân huyện theo Hiễn pháp năm 1946 Theo Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, Bộ máy nhà nước được phân thành năm cấp: Trung ương, cấp bộ, cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, cấp huyện, cấp xã. Bộ máy chính quyền ở địa phương gồm có HĐND và Ủy ban hành chính. Tuy nhiên HĐND chỉ được thành lập ở cấp tỉnh, thành phố; thị xã và xã còn cấp bộ và cấp huyện không tô chức HĐND. Hiến pháp năm 1946 quy định về HĐND tại Chương V: “Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính”.
Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND được quy định: “HĐND quyết định các van đề thuộc địa phương mình. Những nghị quyết ay không được trái với chỉ thị của cấp trên”. Điều 62 của Hiến pháp năm 1946 cũng quy định: B99 “Một đạo luật cụ thé sẽ định rõ những chi tiết tô chức các Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính”, nhưng do điều kiện của đất nước trong hoàn cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp nên thời kỳ đó đã không có một đạo luật tổ chức HĐND và Ủy ban hành chính nào được ban hành. Bởi vậy, trên thực tế cách thức t6 chức, quyền hạn và hoạt động của HĐND vẫn được thực hiện theo quy định của Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945 về tô chức chính quyền nhân dân xã, huyện, tinh kỳ va Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 quy định về tô chức chính quyền nhân dân thành phó, thị xã, khu phó.
Như vậy, theo quy định của Hiến pháp năm 1946 và các văn bản pháp luật thời bấy giờ thì HĐND chỉ được thành lập ở cấp tỉnh, thành phố; thị xã và xã còn cấp huyện không tô chức HĐND. Hội đồng nhân dân huyện theo Hiến pháp năm 1959 Sau kháng chiến ở miền Bac năm 1954 thang lợi, Nhà nước ta đã tiến hành các biện pháp củng có chính quyền ở địa phương. Sắc luật số 04-SL ngày 20/7/1957 về thé lệ bầu cử HĐND các cấp và Sắc luật số 110-SL ngày 31/5/1958 về việc tổ chức chính quyền địa phương được ban hành quy định việc tổ chức lại các cơ quan chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính, theo đó HĐND và UBHC các cấp được thành lập. Cùng với Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959 thì Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính năm 1962 lần đầu tiên được ban hành đánh dấu một sự đôi mới căn bản trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở nước ta.
Theo Hiến pháp năm 1959, đơn vị hành chính của nước ta không còn cấp bộ mà nước được chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thành phó, thị xã; huyện chia thành xã, thị tran. Hién pháp năm 1959 quy định tat cả các đơn vị hành chính kê trên đều thành lập HĐND. Nhiệm kỳ của mỗi khóa HĐND cấp tỉnh là ba năm còn HĐND cấp huyện, cấp xã là hai năm. Như vậy, Hiến pháp năm 1959 là bản Hiến pháp đầu tiên quy định việc thành lập HĐND ở cấp huyện.
Hiến pháp năm 1959 đã lần đầu tiên xác định HĐND các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Theo Điều 28 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính năm 1962: “Tùy theo nhu cầu công tác, Hội đồng nhân dân có thể thành lập các ban của Hội đồng nhân dân”. Về co cấu tổ chức và bộ máy giúp việc của HĐND được quy định tại mục 4 Chương II Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính năm 1962. Hội đồng nhân dân huyện theo Hiến pháp năm 1980 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 là bản Hiến pháp đầu tiên của thời ky quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
So với bản Hiến pháp năm 1959 thì Hiến pháp năm 1980 có nhiều điểm mới. Bộ máy nhà nước ta vẫn gồm 4 cấp: Trung ương: tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương (khu tự trị theo Hiến pháp năm 1959 đã xóa bỏ); từ năm 1975 có cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương; cấp xã, phường, thị tran. Hiến pháp năm 1980 quy định khá đầy đủ cách thức tổ chức HĐND và thâm quyền của HĐND, tại Điều 114 quy định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyên lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và chính quyền cấp trên”. Lúc này, HĐND ở tất cả các cấp không có trụ sở, không có con dấu, không có người hoạt động chuyên trách, không có Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND.
vì vậy, Ủy ban nhân dân cùng cấp đã trở thành cơ quan hoạt động thường xuyên của HĐND cho tới khi Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983 ra đời. Điều 1 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983 quy định: “Hội đồng nhân dân đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ tập thé của nhân dân lao động ở địa phương động viên và tổ chức nhân dân xây dựng, củng có chính quyên, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng. Dé phát huy quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng hơn nữa quyền hạn của HĐND, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983 quy định: Chủ tịch UBND triệu tập kỳ họp HĐND, điều hòa phối hợp với hoạt động của các ban thuộc HĐND, dự kiến chương trình và chuẩn bị cho kỳ họp HĐND. Như vậy, để đảm bảo cho HĐND thực hiện tốt nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Hiến pháp năm 1980, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uy ban nhân dân năm 1983 đã cụ thé hóa những quy định của Hiến pháp về HĐND các cấp.
Nhìn chung Hiến pháp năm 1980 đã quy định khái quát về tô chức, vị trí, tính chất, quyền hạn của HĐND nhưng chưa quy định cụ thê về từng cấp HĐND nói chung và HĐND cấp huyện nói riêng. Hội đồng nhân dân huyện theo Hiến pháp năm 1992 Trước tình hình quốc tế và trong nước có nhiều thay đổi, ngày 15/4/1992, Quốc hội đã thống nhất thông qua Hiến pháp năm 1992 và tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XI ngày 21/6/1994 đã thông qua Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994, tiếp theo đó là Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thê của HĐND và UBND năm 1996 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25/6/1996. Đây là những văn bản pháp luật quan trọng làm nên tảng lý luận và hành lang pháp ly dé hoàn thiện tô chức và hoạt động của HĐND. Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Hội đồng dân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994 thì HĐND ở ba cấp đều có chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND.
Việc triệu tập ky họp HĐND, điều hòa phối hợp hoạt động của các ban thuộc HĐND được chuyền giao cho Thường trực HĐND ở cấp tinh, cấp huyện và Chủ tịch, Pho Chủ tịch HĐND ở cấp xã. Việc chủ tọa các kỳ họp HĐND đã én định và dan đi vào nên nếp. Các kỳ họp HĐND không phải bau ra Doan chủ tịch lâm thời như các kỳ họp trước đây mà Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND) triệu tập và chủ tọa các kỳ hop trong suốt nhiệm kỳ của HĐND. Đây là điều kiện thuận lợi dé dam bảo tính ồn định, khoa học trong việc điều khiển các phiên họp.
Cũng từ năm 1994, HĐND chỉ họp mỗi năm hai kỳ (trước đây là ba tháng một kỳ). Để có thé thích ứng với tình hình quốc tế và trong nước có những biến chuyên không ngừng, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001 va cùng với đó là sự ra đời của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định khá chi tiết nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp HĐND. Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện trong từng lĩnh vực được quy định từ Điều 19 đến Điều 28. Như vậy, trong suốt lịch sử lập hiến và lập pháp Việt Nam, các quy định về HĐND nói chung và HĐND cấp huyện nói riêng được kế thừa lẫn nhau nhưng đồng thời lại có sự sửa đồi, bỗ sung theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn.
Vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND huyện 1. Vị trí, tính chất của HĐND huyện Điều 119, Điều 120 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và Điều 1 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định về vị trí, tính chất và chức năng của HĐND như sau: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng 10 và quyên làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bâu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước câp trên”. Trong bộ máy nhà nước, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương trực tiếp bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm; là cơ quan đại diện cho nhân dân địa phương làm nhiệm vụ giải quyết các công việc ở địa phương trong phạm vi pháp luật cho phép. HĐND có quyền quyết định các chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cô quốc phòng, an ninh, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương.
HĐND là cơ quan bầu ra Thường trực HĐND, UBND và Hội thâm Tòa án nhân dân cùng cấp. HĐND giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương và hoạt động tuân theo pháp luật ở địa phương. Nghị quyết của HĐND phải được quá nửa tổng số đại biểu biểu quyết tán thành, trừ trường hợp bãi nhiệm đại biểu HĐND quy định tại Điều 46 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.