Chương 1: Tổng quan về phúc lợi xã hội Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng giải quyết phúc lợi xã hội ở Nhật Bản Chương 4: Bài học kinh nghiệm giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội của Nhật Bản và khả năng vận dụng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI 1. Tình hình nghiên cứu đề tài Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề phúc lợi xã hội của Nhật Bản và nghiên cứu về an sinh xã hội của một số quốc gia trên thế giới. Có thể kể đến các công trình như: Nhóm nghiên cứu về phúc lợi xã hội nói chung phải kể đến Nguyễn Duy Dũng (1998) chính sách và biện pháp giải quyết phúc lợi xã hội ở Nhật Bản, Hà Nội, Nhà xuất bản khoa học xã hội. Cuốn sách nghiên cứu về sự hình thành và phát triển phúc lợi xã hội ở Nhật Bản, các hình thức và biện pháp phúc lợi xã hội ở Nhật Bản.
Tuy nhiên, công trình này chưa phân tích giải quyết phúc lợi xã hội ở từng thời kỳ nhất định. Từ đó, chưa thấy thực trạng của giải quyết phúc lợi xã hội ở Nhật Bản trong giai đoạn phát triển thần kỳ. Dương Phú Hiệp, Nguyễn Duy Dũng (1998) “một số vấn đề phúc lợi xã hội của Nhật Bản và Việt Nam” Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản. Cuốn sách này được biên tập trên cơ sở tập hợp 17 bài báo nghiên cứu một số vấn đề phúc lợi xã hội ở Nhật Bản và Việt Nam.
Tuy nhiên cuốn sách này mới chỉ phân tích vấn đề phúc lợi xã hội của Nhật Bản và Việt Nam những năm gần đây. Trần Thị Nhung (2002), tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Hà Nội, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Đề tài đi sâu nghiên cứu tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Nhật Bản; mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Nhật Bản từ sau chiến tranh. Tuy nhiên đề tài vẫn chưa đưa ra bài học kinh nghiệm 5 rút ra từ nghiên cứu giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội ở Nhật Bản.
Từ đó chưa đưa ra khả năng vận dụng cho Việt Nam. Đỗ Thiên Kính (2005) “ Kinh nghiệm Nhật Bản trong việc xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội”, đề tài cấp Viện – Viện khoa học xã hội Việt Nam. Đề tài đã phân tích hệ thống phúc lợi của Nhật Bản và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và phát triển các chính sách phúc lợi xã hội. Nhóm công trình nghiên cứu về an sinh xã hội Đinh Công Tuấn ( 2008), “hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Nhà xuất bản khoa học xã hội , Hà Nội.
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống an sinh xã hội của một số nước EU điển hình như Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển. tác giả đã phân tích, đánh giá những thành công và hạn chế của các hệ thống đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho việc hoạch định hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam trong thời gian tới. Năm 2008,hội thảo với chủ đề: Bảo đảm an sinh xã hội - Kinh nghiệm Nhật Bản” do Viện Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) và cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp tổ chức tại Hà Nội đã cung cấp nhiều kinh nghiệm quý báu của Nhật Bản trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội làm cơ sở thực tiễn cho việc vận dụng vào Việt Nam. Nhật Bản cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu mang tính hệ thống về an sinh xã hội của đất nước, điển hình là : Shuzo Nishimura (2011) “ an sinh xã hội ở Nhật Bản”, Viện Dân số và An sinh xã hội Nhật Bản; Toshiaki Tachibanaki (2006 ) “cải cách an sinh xã hội Nhật Bản trong thế kỷ 21” Đại học Kyoto.
Tóm lại, những nghiên cứu này đã đề cập đến những khái niệm cơ bản và đưa ra những đánh giá ban đầu về hệ thống phúc lợi xã hội ở Nhật Bản. Tuy nhiên các công trình chưa đánh giá được thực trạng của giải quyết phúc 6 lợi xã hội ở Nhật Bản trong giai đoạn phát triển thần kỳ 1953 -1973. Trong phạm vi của luận văn, tác giả hệ thống hóa cơ sở sở lý luận về lý luận chung về phúc lợi xã hội, phân tích thực trạng giải quyết phúc lợi xã hội ở Nhật Bản giai đoạn phát triển thần kỳ -từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Luận văn sẽ chỉ khả năng vận dụng bài học giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội của Nhật Bản phù hợp với thực tế hiện nay của Việt Nam.2 Khái niệm và đặc điểm của phúc lợi xã hội 1.1 Khái niệm phúc lợi xã hội Sức lao động là yếu tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người.
Con người sử dụng sức lao động để tạo ra của cải vật chất, nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân. Tuy nhiên, không phải lúc nào con người cũng có khả năng tạo ra thu nhập. Khi điều kiện tự nhiên và xã hội không thuận lợi như khi ốm đau, tai nạn, tuổi giá hoặc rủi ro do thiên tai xảy ra khiến con người không có thu nhập để đảm bảo cuộc sống bình thường. Khi đó, để tồn tại và phát triển, con nguời cần sự giúp đỡ của cộng đồng dưới nhiều hình thức khác nhau.
Điều này tạo cơ sở cho sự hình thành hệ thống phúc lợi xã hội cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người. Cho đến nay, do sự khác biệt về nhận thức nên quan niệm về phúc lợi xã hội còn khác nhau giữa các quốc gia. Thuật ngữ phúc lợi xã hội đã được sử dụng từ vài chục năm nay ở Việt Nam với những phạm vị khác nhau. Từ những năm 60, thuật ngữ này sử dụng miền Bắc để chỉ những chế độ chính sách áp dụng cho cán bộ công nhân viên chức nhà nước ( chẳng hạn quỹ phúc lợi xí nghiệp), đây là một thực tế vẫn tồn tại đến ngày nay.
Về sau, người ta sử dụng một số thuật ngữ khác nhau như: bảo đảm xã hội, an sinh xã hội, dịch vụ xã hội.Ở Việt Nam và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, khái niệm phúc lợi xã hội được hiểu là: “phúc lợi là những lợi ích mà người lao động và các thành viên trong gia 7 đình được hưởng từ thành quả lao động của mình thông qua việc đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần, nhằm duy trì và nâng cao chất lượng lao động và chất lượng cuộc sống” (Trần Thị Nhung, 2002). Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2000 của Hoàng Phê đưa ra định nghĩa phúc lợi xã hội là “lợi ích công cộng mà người dân được hưởng không phải trả tiền hoặc chỉ phải trả một phần”(Hoàng Phê, 2000). Như vậy, phúc lợi xã hội những đồng nghĩa với những gì xã hội đem lại, hay những lợi ích mà nhà nước đem lại thông qua các dịch vụ xã hội mà người dân không phải trả tiền hoặc chỉ trả một phần. Cách hiểu này xuất phát từ quan niệm về phúc lợi xã trong mô hình quản lý theo phương thức kế hoạch hóa tập trung trước đây, khi mà người ta hiểu “phúc lợi” là phần thù lao mà người lao động nhận từ cơ quan hay xí nghiệp, ngoài phần tiền lương, tiền phụ cấp và tiền thưởng, nhằm hỗ trợ thêm về mặt đời sống.
Thứ hai, là quan niệm phúc lợi xã hội ở các nước phương Tây. Sau chiến tranh thế giới thứ hai các nước này đã đạt được thành tựu nổi bật về kinh tế. Họ cho rằng cần phải giải quyết tốt tăng trưởng kinh tế gắn liền với các vấn đề xã hội. Chẳng hạn, ở Anh ( báo cáo điều tra phúc lợi xã hội quốc tế lần thứ nhất) năm 2005 cho rằng: “phúc lợi xã hội từ trước tới nay không phải chỉ là các hoạt động liên quan đến phúc lợi đối với người già, người tàn tật, tội phạm, tức là những người cần quan tâm đặc biệt”.
Ở Mỹ, phúc lợi xã hội được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa hẹp, phúc lợi xã hội “bao gồm những hoạt động phi lợi nhuận của xã hội, nhà nước hay các tổ chức tình nguyện nhằm xóa đói giảm nghèo hoặc cải thiện điều kiện thường ngày của xã hội” (Trần Thị Nhung, 2002). Nói cách khác, phúc lợi xã hội được nhìn nhận là những hoạt động hướng tới việc giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn để họ không bị chết đói hoặc không có chốn nương thân. Định nghĩa này đã loại trừ nhiều chương trình phúc lợi 8 xã hội quan trọng như: chương trình bảo hiểm hay chương trình đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí cho trẻ em và người già mà nhiêu nước đang thực hiện.
Theo nghĩa rộng “ phúc lợi xã hội là tất cả các hoạt động có tổ chức của các đơn vị tình nguyện và chính phủ để tìm cách ngăn chặn, xóa bỏ hoặc góp phần tìm ra các giải pháp cho các vấn đề xã hội, hoặc làm tăng thêm niềm hạnh phúc của các cá nhân, nhóm người, cộng đồng” (Trần Thị Nhung, 2002).Phúc lợi xã hội theo nghĩa này bao hàm quá nhiều vấn đề đồng thời lại loại trừ việc cung cấp dịch vụ xã hội để thu lợi nhuận của khu vực tư nhân. Các khái niệm nêu trên cho thấy cách hiểu về phúc lợi xã hội căn cứ vào đối tượng cần được hỗ trợ. Tuy nhiên bản thân đối tượng này vẫn chưa được xác định một cách rõ ràng và hầu như không đề cập đến chức năng của phúc lợi xã hội. Khái niệm về phúc lợi xã hội trong báo cáo điều tra phúc lợi xã hội và giáo dục quốc tế lần thứ V năm 1971 được nhiều người ủng hộ.
Ở đây: “phúc lợi xã hội là biện pháp, thủ tục hỗ trợ một cách gián tiếp và là dịch vụ xã hội nhằm tăng cường phúc lợi cho mỗi cá nhân, với mục đích cải thiện mối quan hệ xã hội và công việc xã hội đối với mỗi thành viên trong xã hội. Biện pháp này được tiến hành ở tất cả mọi trình độ, cấp độ xã hội từ cá nhân, đoàn thể đến toàn xã hội. Phúc lợi xã hội ngoài việc đóng bảo đảm sức khỏe, giáo dục, còn nhằm cải thiện và nâng cao đời sống, công việc cho mọi người. Nó là biện pháp tổng hợp toàn diện để giải quyết các vấn đề của cá nhân và xã hội hiện tại.
Như vậy khái niệm này đã cho thấy chức năng cũng như đối tượng của phúc lợi xã hội.