Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về GNBV; Chương 2: Thực trạng QLNN về GNBV trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; Chương 3: Giải pháp tăng cường QLNN về GNBV trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số vấn đề cơ bản về giảm nghèo bền vững 1. Một số khái niệm liên quan 1.
Khái niệm về nghèo đói: - Trên thế giới Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN) tháng 6/2008: “Nghèo là thiếu năng lực tối thi u đ tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là h ng có đủ ăn, đủ mặc, h ng được đi học, h ng được hám chữa bệnh, h ng có đất đai đ tr ng trọt hoặc h ng có nghề nghiệp đ nu i sống bản th n, h ng được tiếp cận t n dụng. Nghèo cũng có nghĩa là h ng an toàn, h ng có quyền, và bị loại tr , d bị bạo hành, phải sống trong các điều iện rủi ro, h ng tiếp cận được nước sạch và c ng tr nh vệ sinh” [1;12]; [3;13]. Theo Amartya Kumar Sen, nhà inh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel inh tế): để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong ngh o nàn.
Nhà kinh tế học ỹ Galbaith cũng quan niệm: “ on người bị coi là nghèo hổ hi mà thu nhập của họ, ngay dù th ch đáng đ họ có th t n tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đ ng. Khi đó, họ h ng th có những g mà đa số trong cộng đ ng coi như là cái cần thiết tối thi u đ sống một cách đúng mực” [2;7]. Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan ạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về ngh o như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đ la (USD) m i ngày cho m i người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu đ t n tại” [4;9]. 8 Trong “Báo cáo về t nh h nh phát tri n thế giới - ấn c ng nghèo đói” năm 2000, WorldBank (WB) thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về đói ngh o: Đói ngh o “ h ng chỉ bao hàm sự hốn cùng về vật chất (được đo lường theo một hái niệm th ch hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà c n là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế” [1;2;4] Báo cáo đã mở rộng quan niệm về đói ngh o khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, dễ gặp rủi ro của người ngh o.
Báo cáo nêu bật “nghèo có nghĩa là h ng có nhà cửa, quần áo, ốm”. - Tại Việt Nam Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống ngang bằng với mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Nhìn chung, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, giáo dục, quyền tham gia vào các quyết định của cộng đồng. Ngh o thường được phản ánh dưới ba khía cạnh: hông được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người; ức sống thấp dưới mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú; hông được hưởng cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng.
ặc dù có rất nhiều quan niệm khác nhau về ngh o đói nhưng tôi đồng ý với quan niệm về đói ngh o do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đưa ra và đây cũng là khái niệm tôi chọn sử dụng trong nghiên cứu cho luận văn. Theo đó, “nghèo đói là t nh trạng của một bộ phận d n cư chỉ có hả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng hoặc dưới mức sống tối thi u của cộng đ ng xét trên mọi phương diện”. Ở Việt Nam thì ngh o được chia thành các mức khác nhau: Ngh o tuyệt đối, ngh o tương đối, ngh o đa chiều. + Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện ngh o không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại.
9 + Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện ngh o có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. + Nghèo đa chiều: Có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Khái niệm giảm nghèo Giảm ngh o được hiểu là làm cho bộ phận dân cư ngh o nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng ngh o. Biểu hiện của việc giảm ngh o ở t lệ phần trăm và số lượng người ngh o giảm xuống.
Nói một cách khác, giảm ngh o là quá trình nâng cao đời sống của những người thuộc diện đói ngh o giúp một bộ phận dân cư ngh o lên một mức sống cao hơn, vượt ngưỡng ngh o. Vì chuẩn ngh o thay đổi theo mức độ phát triển T-XH nên giảm ngh o thường là một quá trình lâu dài. Ở khía cạnh khác, giảm ngh o là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người. Ở góc độ người ngh o: Giảm ngh o là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người ngh o có khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn tốt hơn trong quá trình phát triển và giúp cho họ từng bước thoát khỏi tình trạng ngh o đói.
Ở góc độ vùng ngh o: Giảm ngh o là quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế, chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội của vùng miền đó cho phù hợp với điều kiện sang trình độ sản xuất mới cao hơn nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư. Giảm ngh o là một trong những trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người ngh o, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng ngh o; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. 10 Như vậy, “Giảm nghèo là cách thức vận dụng các ngu n lực, vật lực của Nhà nước, của xã hội đ tri n hai thực hiện các chương tr nh, dự án nhằm tác động tới các đối tượng cụ th như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đ ch giúp họ n ng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện hó hăn, tạo cơ hội cho họ về thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người. Giảm nghèo bền vững Cho đến nay, vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về GNBV hay giảm ngh o theo hướng bền vững là gì.
Tuy nhiên vấn đề giảm ngh o luôn được đề cập đến khi nói đến phát triển bền vững và GNBV là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững. Ngược lại, phát triển kinh tế bền vững lại là cơ sở, điều kiện để GNBV. Về cơ bản, giải quyết ngh o đói nói chung trước hết cần đảm bảo cả 2 mặt: số lượng và chất lượng. Số lượng giảm ngh o sẽ là số tuyệt đối hộ nghèo giảm được trong một thời gian (thường được xem xét trong 1 năm, 5 năm), cần phân biệt giữa số hộ ngh o giảm với số hộ thoát ngh o, hai khái niệm này sẽ chỉ đồng nhất với nhau khi không có các yếu tố khác tác động đến như di chuyển dân cư, tái ngh o; Chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm ngh o, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người ngh o được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi lại vào tình trạng ngh o đói, hay nói cách khác, chất lượng giảm ngh o suy cho cùng là phản ảnh tính bền vững của quá trình giảm nghèo.
Nhìn chung, để giảm ngh o bền vững các nhà nghiên cứu, các chuyên gia về KT-XH, lao động - việc làm đều cho rằng, cần hỗ trợ phát triển hạ tầng, hỗ trợ nghề cũng như các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế dựa vào cộng đồng để người ngh o có thể tự vươn lên thoát ngh o và làm giàu bằng chính khả năng của mình dựa trên những điều kiện T-XH sẵn có. 11 - Các chỉ tiêu đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo: Để đánh giá mức độ bền vững trong giảm ngh o, không thể chỉ đánh giá dựa trên số lượng người ngh o, hộ ngh o, xã ngh o, huyện ngh o giảm xuống mà phải căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau như: Thu nhập thực tế của người ngh o, hộ ngh o được cải thiện, vượt qua được chuẩn ngh o, hạn chế tối đa tình trạng tái ngh o về thu nhập. nếu gặp rủi ro hoặc sự thay đổi của chuẩn ngh o; Được tạo cơ hội và có khả năng tiếp cận đầy đủ với các nguồn lực sản xuất được xã hội tạo ra, các dịch vụ hỗ trợ người ngh o và được quyền tham gia và có tiếng nói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế, giảm ngh o cho bản thân và địa phương; Được trang bị một số điều kiện "tối thiểu" để phục vụ cuộc sống, được đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục dạy nghề và chăm sóc sức khoẻ để về lâu dài, người ngh o, người mới thoát ngh o và con em họ có được kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, tay nghề nhằm tạo ra thu nhập ổn định trong cuộc sống.