CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 1.1 Tổng quan về hoạt động liên quan đến chất lượng đào tạo.1 Trên thế giới Hoạt động nâng cao chất lượng đào tạo hiện đang phát triển ở nhiều mức độ khác nhau tại các quốc gia trên thế giới. Do đó, yêu cầu về chất lượng và kiểm soát chất lượng buộc phải thiết lập các Cơ quan đảm bảo chất lượng-Quality Assurance Agencies (QAAs). Một số quốc gia đã xây dựng được hệ thống kiểm định chất lượng từ khá lâu như Mỹ, Australia, Hàn Quốc, New Zealand, Hồng Kông, Ấn Độ sau đó lan dần sang các quốc gia khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Malaysia và hiện nay có 15 tổ chức đảm bảo chất lượng cấp quốc gia đang hoạt động; trong đó tổ chức được thành lập đầu tiên là vào năm 1991. Những tổ chức này có những nhiệm vụ và chức năng khác nhau, nhưng chức năng chung nhất đây là các tổ chức hợp pháp được công nhận để thực hiện việc kiểm định chất lượng chương trình đào tạo, hoặc kiểm định chất lượng các trường đại học và cao đẳng trong quốc gia mình.
Những nghiên cứu về nâng cao chất lượng đào tạo luôn gắn liền với các vấn đề bảo đảm chất lượng đào tạo và được triển khai rất mạnh. Cho đến nay ở các nước phát triển căn bản đã hình thành những lý thuyết về chuẩn, quản lý dựa vào chuẩn, các mô hình kiểm định chất lượng đào tạo cùng những kỹ thuật và công cụ phong phú. Tất cả những vấn đề như vậy đều trực tiếp thuộc hệ thống quản lý chất lượng giáo dục. Ở Mỹ: để phân biệt chất lượng một trường Cao Đẳng, Đại học có uy tín và thì sẽ dựa vào các hệ thống kiểm định thông qua các cơ quan chủ trì hệ thống kiểm định đó.
Điều này nói lên rằng, chất lượng và độ tin được công nhận chính thức từ tổ chức kiểm định. Mỗi tổ chức, ủy ban kiểm định đều có mức đánh giá chất lượng chương trình khác nhau. Các trường đại học và cao đẳng tại Mỹ được phân loại thành 3 loại 1 kiểm định: kiểm định vùng (regional accreditation), kiểm định quốc gia (national accreditation) và kiểm định chuyên ngành (specialized accreditation). Ngoại trừ kiểm định chuyên ngành chỉ tập trung vào một số chương trình chuyên biệt, 2 loại còn lại được xem là 2 loại kiểm định phổ biến nhất.
Loại kiểm định của trường sẽ phản ánh các đặc điểm về xu hướng đào tạo, giá trị được công nhận cũng như chất lượng của tấm bằng do trường cấp. Mỹ hiện có 6 tổ chức kiểm định vùng và một số tổ chức kiểm định quốc gia được công nhận. Đây đều là các tổ chức tư nhân độc lập, được Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (USDE) và Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học (CHEA) công nhận [31]. Và để được các tổ chức kiểm định này công nhận, các trường phải trải qua sự đánh giá thường xuyên về nhiều mặt như giáo trình, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, dịch vụ hỗ trợ sinh viên… Ở Úc, năm 1992 Uỷ ban Đảm bảo Chất lượng Giáo dục Đại học (The Committee For Quality Assurance in Higher Education) được thành lập với nhiệm vụ tư vấn cho chính phủ về các vấn đề đảm bảo chất lượng đào tạo.
Ở Hong Kong: có Hội đồng Kiểm định chất lượng học thuật Hong Kong (Hong Kong Council on Academic Accreditation); viết tắt là HKCAA. Ở Ấn Độ: có Hội đồng Đánh giá và Kiểm định chất lượng Ấn Độ (National Assessment and Accreditation Council); viết tắt là NAAC Ở Indonesia: Uỷ Ban Quốc gia Kiểm định chất lượng giáo dục đại học Indonesia (The National Accreditation Board for Higher Education). 2 Ở Mông Cổ (Mongolia): có Hội đồng Kiểm định chất lượng giáo dục đại học Mông Cổ (National Council on Higher Education Accreditation); viết tắt là NCHEA. Ở Tân Tây Lan (New Zealand): Tổ chức Kiểm định chất lượng học thuật Tân Tây Lan (Academic Audit Unit); viết tắt là AAU Ở Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (People’s Republic of China): Hỗn hợp giữa các tổ chức ĐBCL do Chính phủ thành lập mang tính tập trung và bán tập trung (a combination of centralized and decentralized quality assurance bodies).
Ở Philippines: có các tổ chức chính gồm: - Tổ chức Kiểm định chất lượng các trường đại học & cao đẳng Philipin (do Chính phủ thành lập) (Accrediting Agency of Chartered Colleges and Universities in the Philip-pines (Governmental); viết tắt là AACCUP - Hiệp hội các trường phổ thông, cao đẳng và đại học Philipin (tổ chức phi chính phủ) (Philippine Accrediting Association of Schools, Colleges and Universities (Non-governmental); viết tắt là: PAASCU. Ở Thailand: Ban Tiêu chuẩn giáo dục Quốc gia và Kiểm định chất lượng (Office of National Educational Standards and Quality Assessment); viết tắt là ONESQA Ở Malaysia: Uỷ ban Kiểm định chất lượng Malaysia (National Accreditation Board); viết tắt là LAN. Với chủ trương xây dựng Malaysia thành trung tâm giáo dục hàng đầu khu vực, thành một nước công nghiệp đầy đủ vào năm 2020, ngay từ năm 1995, Malaixia đã tạo một biến đổi lớn có tính cách mạng trong hệ thống giáo dục bằng việc ban hành 6 đạo luật: Đạo luật giáo dục 1996, Đạo luật hội đồng quốc gia về trường đại học 1996, Đạo luật về các trường đại học tư 1996, Đạo luật về các trường đại học và cao đẳng 1996, Đạo luật về Hội đồng chứng nhận quốc gia 1996 và Đạo luật về Hội đồng Quốc gia gây quỹ giáo dục đại học 1997. Tất cả những đạo luật này đều nhằm phục vụ cho cuộc cải cách giáo dục theo hướng tập trung vào thị trường, chấp nhận mọi thách thức của toàn cầu hóa bằng cách thay đổi nội dung của chương trình học, chương trình giáo dục.
Một trong những nội dung của cuộc cải 3 cách này là nâng cao chất lượng đào tạo, quốc tế hóa các chương trình giảng dạy. Ở các nước Đông Nam Á: một trong các biện pháp cơ bản để thúc đẩy giáo dục đại học trong khu vực Đông Nam Á là xây dựng mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (A SEAN University Nework - AUN), đặc biệt là hệ thống đảm bảo chất lượng của mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN-QA). Việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng của AUN được khởi xướng từ năm 1998 bởi Chủ tịch đầu tiên của Hội đồng quản trị AUN (AUN-BOT) là giáo sư, tiến sĩ Vanchai Sirichana. Theo đó, mỗi trường thành viên sẽ bổ nhiệm một cán bộ cốt cán chịu trách nhiệm về chất lượng (Chief Quality Officer -CQO) để điều phối các hoạt động đảm bảo chất lượng nhằm hướng tới mục đích nói trên.
Cán bộ cốt cán này sẽ chịu trách nhiệm tham dự các hội thảo về đảm bảo chất lượng của AUN. Các hội thảo này hướng đến việc xây dựng những tiêu chí (criteria) chung về chất lượng cũng như các qui trình định chuẩn (benchmarking) thông qua những đoàn đánh giá trong và đánh giá ngoài các đại học thành viên. Trong số đó đã tổ chức Hội thảo lần thứ III từ ngày 28 đến 30/3/2002 gồm các cán bộ nòng cốt về chất lượng của AUN với chủ đề “Thực hành ĐBCL: dạy cái tốt nhất, học cái tốt nhất” với trọng tâm là việc chia sẻ những thực hành tốt trong việc giảng dạy và học tập được tổ chức tại Yangon, Myanmar. Hội thảo đã rất thành công khi các trường thành viên đã rất tích cực chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức trong việc dạy và học.2 Tại Việt Nam Trong nhiều năm qua, mặc dù giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định, song nhìn chung, vẫn còn tồn tại nhiều nghịch lý, chưa theo kịp trình độ phát triển của giáo dục thế giới, thậm chí còn nhiều tiêu cực nảy sinh trong hệ thống giáo dục.
“Chúng ta không thiếu việc làm mà thiếu cử nhân làm được việc”. Nhận xét khái quát này cho thấy việc đào tạo học để có nghề và ra làm được nghề có rất nhiều bất cập. Điều này tồn tại đã lâu và được nói đến nhiều nhưng vẫn chưa thể khắc phục. Chính vì thế mà hằng năm Việt Nam có khoảng 223.000 sinh viên 4 tốt nghiệp đại học hệ công lập và 22.700 sinh viên tốt nghiệp đại học hệ dân lập (theo số liệu của Tổng cục Thống kê), nhưng tỷ lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường bị thất nghiệp là 63% (theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
[3] Từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm của thế giới có thể thấy rằng, coi trọng và quyết tâm thực thi chính sách giáo dục - đào tạo phù hợp là nhân tố quyết định tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển nhanh và bền vững phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta có ý nghĩa hết sức quan trọng và cũng là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Trong bài “Đồng hành trên con đường đổi mới giáo dục đại học” đăng trên báo Giáo dục và thời đại ngày 12/3/2010, GS. Phạm Vũ Luận (lúc đó là thứ trưởng thường trực Bộ GD&ĐT) đã viết: “Kiên quyết chấm dứt tình trạng không kiểm soát được chất lượng đào tạo”. Đó là quyết tâm của Bộ, đó cũng là một lời kêu gọi trước thực trạng đáng buồn hiện nay.
Nhưng nếu các cơ sở không thay đổi, không mặn mà với việc kiểm soát chất lượng thì chắc chắn giáo dục của chúng ta không thể đổi mới. Đã có khá nhiều công trình đề cập đến công tác quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo, nhưng phần lớn các nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia giáo dục và các luận văn thạc sĩ tập trung vào quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo ở các Trung tâm, trường Cao đẳng, Đại học. Cụ thể: - Đề án của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã được phê duyệt theo quyết định số 4138 nghiên cứu xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục Đại học và Trung Cấp Chuyên Nghiệp giai đoạn 2011 – 2020 đã củng cố và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về kiểm định chất lượng giáo dục đối với GDĐH - TCCN, tạo môi trường và hành lang pháp lý cho sự phát triển ổn định hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục; xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục để triển khai đánh giá các cơ sở giáo dục và chương trình GDĐH, các trường TCCN đạt tiêu chuẩn chất lượng, góp phần vào việc đảm bảo và nâng cao chất lượng GDĐH – TCCN; xây dựng chính sách để phát triển đội ngũ chuyên gia đánh giá ngoài có đủ trình độ và số lượng để triển khai các 5 hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đối với GDĐH – TCCN; Tăng cường hợp tác quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực kiểm định chất lượng giáo dục đối với GDĐH – TCCN [3].