CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ MARKETING VẬN DỤNG TRONG NGÀNH DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1. Tổng quan về dịch vụ và dịch vụ viễn thông 1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ + Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ là lĩnh vực kinh tế mang lại ảnh hưởng kinh tế của một xã hội hiện đại. Ngày nay xã hội phát triển được nhìn nhận bởi sự phân công hóa lao động cao, yêu cầu về chất lượng dịch vụ và cuộc sống cao chính vì vậy chất lượng dịch vụ cũng phải được chuyên môn hóa cao để đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Ta thấy một xã hội phát triển thường đi đôi với ngành dịch vụ có mức phát triển cao. Dịch vụ là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn học như kinh tế học, xã hội học, luật học, khoa học quản lý.do đó có nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ. Thực tế cũng khó có thể phân biệt được dịch vụ với hàng hóa vì khi mua một hàng hóa thì khách hàng thường nhận được những lợi ích kèm theo. Tương tự, một dịch vụ cũng thường được hàng hóa hữu ích kèm theo làm cho dịch vụ tăng thêm giá trị.
Theo Kotler và Armstrong(1991) thì: “ Một dịch vụ là một loạt hoạt động hay lợi ích mà một bên cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao sở hữu nào cả”. Dịch vụ thuần túy có các đặc trưng phân biệt với hàng hóa thuần túy, dẫn đến việc cung cấp dịch vụ khác nhiều so với cung cấp hàng hóa như: tính vô hình, tính không tách rời giữa tiêu dùng và dịch vụ, tính không đồng đều về chất lượng, tính không dự trữ được và tính không chuyển đổi sở hữu. + Khái niệm về dịch vụ viễn thông “Dịch vụ viễn thông di động là một loại hình dịch vụ nhằm cung cấp khả năng trao đổi thông tin ngay tức thời cho người sử dung ở mọi lúc mọi nơi và không thay đổi nội dung của thông tin”. Đây là một lĩnh vực dịch vụ đặc biệt, nó hỗ trợ cho tất cả những ngành sản xuất, dịch vụ khác và đời sống xã hội.
Chính vì vậy nó là một lĩnh vực kinh tế vô cùng quan trọng và cần thiết. 6 Dịch vụ cơ bản là dịch vụ truyền đưa tức thời dịch vụ viễn thông qua mạng Viễn thông hoặc Internet mà không thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin trong đó, trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet. Dịch vụ ứng dụng Internet trong Bưu chính viễn thông cho người sử dụng. Dịch vụ ứng dụng Internet trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội khác phải tuân theo các quy định Pháp luật về Bưu chính, Viễn thông và các quy định khác của Pháp luật có liên quan.
Như vậy, dịch vụ viễn thông di động là một loại hình dịch vụ Viễn thông có tính ưu việt là có khả năng sử dụng ở mọi lúc mọi nơi, hội tụ được cả chức năng cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản là truyền tin và các dịch vụ giá trị gia tăng khác và truy cập Internet. + Khái niệm về dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng điện thoại di động Trong lĩnh vực thông tin nói chung, khi nói đến dịch vụ có nghĩa đang nói đến những dịch vụ cơ bản của di động: dịch vụ thoại và dịch vụ nhắn tin. Vào các thế hệ tiếp theo phát triển thêm một loại hình dịch vụ nữa là dịch vụ hỗ trợ giao tiếp Internet, cho phép truyền phim ảnh và các ứng dụng đa phương tiện trên kênh truyền hình di động. Dịch vụ thông tin di động là một loại hình dịch vụ có khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của người tiêu dùng.
“Dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng điện thoại di động là dịch vụ là tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông và Internet”. Các dịch vụ giá trị gia tăng là những dịch vụ được phát triển dựa trên nền các dịch vụ cơ bản: tin nhắn và dịch vụ truyền gói. + Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là một hàng hóa đặc biệt, nó có những nét nổi bật riêng mà hàng hóa hữu hình không có. Dịch vụ có 4 đặc điểm cơ bản khác biệt sau đây: 7 - Dịch vụ có đặc tính không hiện hữu: Đây là đặc tính cơ bản của dịch vụ.
Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Tuy vậy sản phẩm dịch vụ vẫn mang nặng tính vật chất nhất định. Tính vô hình – không hiện hữu được biểu lộ khác nhau đối với từng loại dịch vụ. - Dịch vụ không có tính đồng nhất: Khác với hàng hóa có đặc điểm tiêu chuẩn hóa được.
Dịch vụ thường không lặp lại cùng một cách thức, khó tiêu chuẩn hóa. Thành công của dịch vụ và độ thỏa mãn của khách hàng tùy thuộc vào hành động của nhân viên. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khó kiểm soát: Các nhân viên phục vụ khác nhau không thể tạo ra dịch vụ giống nhau, biểu hiện của từng người trong thời gian khác nhau cũng rất khác nhau, khách hàng thường đánh giá dịch vụ thông qua cảm nhận. - Dịch vụ có đặc tính không tách rời: Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ.
Các sản phẩm dịch vụ có thể là không đồng nhất mang tính hệ thống, đều từ cấu trúc của dịch vụ cơ bản phát triển thành. Quá trình sản xuất gắn liền với tiêu dùng dịch vụ. Người tiêu dùng cũng tham gia hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ cho mình. Như vậy việc sản xuất dịch vụ phải thận trọng, phải có khách hàng, có nhu cầu thì quá trình sản xuất mới có thể tiến hành được.
- Sản phẩm dịch vụ mau hỏng, dễ bị thay thế: Dịch vụ không tồn kho, không cất trữ và không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác. Do vậy việc tiêu dùng dịch vụ bị hạn chế bởi thời gian. Cũng từ đặc điểm này mà làm mất cân đối quan hệ cung cầu cục bộ giữa thời điểm khác nhau trong cùng một thời gian. + Những đặc điểm riêng có của dịch vụ GTGT trên mạng viễn thông Dịch vụ GTGT trên mạng điện thoại di động là một loại dịch vụ viễn thông, do đó nó mang đặc điểm chung của dịch vụ và những đặc điểm chung của dịch vụ viễn thông như: Tính vô hình, quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ sản phẩm, quá trình sản xuất mang tính dây chuyền, tải trọng dịch vụ lao động không đồng đều theo thời gian và không gian, tính dự trữ 8 được, khả năng thay thế của dịch vụ viễn thông.
Ngoài ra nó còn có các đặc trưng riêng và đặc trưng công nghệ: - Thứ nhất: Dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng điện thoại di động mang lại hiệu quả thông tin liên lạc có độ linh loạt cao trong việc sử dụng mọi lúc mọi nơi nhờ sử dụng các máy đầu cuối thông tin di động với nhau. Nó cho phép người sử dụng có thể chủ động thực hiện và tiếp nhận cuộc gọi ở bất cứ nơi nào, chính vì vậy mà nó dần trở thành công cụ liên lạc ngày càng thiết yếu của mọi người. - Thứ hai: Dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng điện thoại di động có tính bảo mật cao, đảm bảo tính cá nhân cho mỗi thuê bao. Nó còn cung cấp các dịch vụ đa dạng cho các thuê bao trong hai lĩnh vực thoại và truyền số liệu.
Ngoài ra, nó còn có thể dễ dàng thích ứng với nhu cầu tăng nhanh của xã hội và nó dễ tối ưu hóa và mở rộng mạng lưới. - Thứ ba: Giá cước, thiết bị đầu cuối của dịch vụ GTGT trên mạng điện thoại di động cao hơn dịch vụ điện thoại cố định. Nguyên nhân là do đầu tư ban đầu cũng như công nghệ áp dụng có chi phí cao. - Thứ tư: Do không thể lưu trữ được nên việc tiến hành xúc tiến các hoạt động Marketing bán hàng mở rộng thị phần là rất quan trọng để đảm bảo khai thác hiệu quả nhất công suất của máy móc đẩy nhanh tốc độ khấu hao của máy móc, chống hao mòn vô hình của máy móc do ảnh hưởng lớn của tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Thứ năm: sản phẩm của dịch vụ GTGT trên mạng điện thoại di động mang tính chất vùng, mỗi vùng phụ thuộc vào vị trí địa lý, vào vùng phủ sóng, trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng như nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau. - Thứ sáu: quan hệ cung cầu phản ánh nhanh, rõ nét tạo điều kiện để nhà cung cấp dịch vụ xác định được ngay nhu cầu của khách hàng. Từ đó đưa ra các phương án giải quyết nhanh, đáp ứng khách hàng, tận dụng tối đa các lợi thế cạnh tranh 9 1. Marketing dịch vụ viễn thông 1.
Đặc điểm của marketing dịch vụ viễn thông. Theo quan điểm truyền thống về Marketing, Marketing là nhận diện và thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng bằng cách cung ứng sản phẩm hay dịch vụ thông qua các quá trình trao đổi đôi bên cùng có lợi. Theo quan điểm mới về Marketing dịch vụ, phạm vi hoạt động của Marketing trong dịch vụ rộng lớn hơn nhiều so với hoạt động trong hàng hóa sản phẩm. Nó đòi hỏi sự đổi mới, mở rộng giới hạn trong cách suy nghĩ và phương thức hoạt động.
Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tổ chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội. Theo Philip Kotler: “ Marketing dịch vụ đòi hỏi các giải pháp nâng cao chất lượng, năng suất dịch vụ, tác động làm thay đổi cầu, việc định giá cũng như phân phối”.