Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động vốn phát triển nông nghiệp ven đô Chương 2: Thực trạng huy động vốn cho phát triển nông nghiệp ở huyện Từ Liêm, Hà Nội Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường huy động vốn cho phát triển nông nghiệp tại huyện Từ Liêm, Hà Nội. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG VỐN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VEN ĐÔ 1.1 Nông nghiệp ven đô 1.1 Khái niệm Trước khi đi vào khái niệm “nông nghiệp ven đô”, cần tìm hiểu về khái niệm “vùng ven đô”. Vùng ven đô là khu vực cận kề với Thành phố, là nơi vừa có các hoạt động đặc trưng cho nông thôn vừa có các hoạt động mang tính đô thị. Vùng ven đô không tồn tại độc lập mà nằm trong miền liên thông nông thôn – ven đô – đô thị.
Tất cả các xã, phường, thị trấn có phần lãnh thổ tiếp giáp khu vực nội thành được xác định cụ thể qua các biện pháp quản lý hành chính là vùng ven đô. Nó có những đặc trưng kinh tế, văn hóa và xã hội riêng: Về kinh tế: Khác với nông thôn, vùng ven đô bao gồm toàn diện hơn các hoạt động kinh tế, như các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ đô thị. Về xã hội: Vùng ven đô không thuần nhất về thành phần dân cư (nông dân, công dân, trí thức, chủ doanh nghiệp; tầng lớp trung lưu, người nghèo cùng sống chung trong một vùng lãnh thổ ven đô); trình độ dân trí và nhận thức của người dân cao hơn so với nông thôn vì được tiếp xúc nhiều hơn với các yếu tố hiện đại và được cung cấp thông tin thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau. Về văn hóa: Lối sống cư dân ven đô là sự pha trộn lối sống nông thôn - đô thị do sự đa dạng về thành phần dân cư, trong đó chịu tác động mạnh của lối sống đô thị.
Các giá trị, chuẩn mực văn hóa và lối sống biến đổi trong mỗi gia đình và ngoài xã hội. Vùng ven đô, các mối liên hệ tương tác lẫn nhau được thể hiện ở chỗ nông thôn và ven đô là nơi cung cấp thường xuyên, lâu dài lương thực thực phẩm, nguồn nguyên liệu và nguồn lao động cho đô thị, ngược lại đô thị tạo ra thị trường để tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, tạo cơ hội việc làm và nơi ở cho các dòng di dân từ nông thôn đến đô thị, và cung cấp các sản phẩm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. 9 Như vậy khi nói đến “nông nghiệp ven đô” có thể hiểu là khu vực nông nghiệp ven các đô thị hay ven các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vùng có đông dân cư, trong đó: quá trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp từ nguyên liệu, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thủy văn, bảo đảm sự cân bằng sinh thái, tạo hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng môi trường. Quá trình này được diễn ra ở các vùng xen kẽ hoặc tập trung ở đô thị bao gồm nội đô, giáp ranh và ngoại ô.
Trong xã hội hiện đại ngày nay, nhiều quốc gia phát triển, đặc biệt là ở châu Âu, quy hoạch phát triển các đô thị đều rất chú ý tới việc hình thành những “mảng xanh” của vùng nông thôn ven đô. Những khu vực này vừa để đảm bảo những không gian xanh đô thị, vừa là nơi sản xuất nông sản cho tiêu dùng tại chỗ và ở các khu vực lân cận. Khi đó, sản xuất nông nghiệp ở các khu vực này sẽ giảm được đáng kể những chi phí vận chuyển. Xu hướng mới ở những vùng nông nghiệp ven đô của một số thành phố của nước Pháp, Đức, Hà Lan…đã khuyến khích người nông dân phát huy sáng kiến, tạo nên phong cảnh đẹp cho nông thôn ven đô ngay trên ruộng đất của các hộ gia đình.
Những cánh đồng lúa mạnh, nho, hướng dương…ngoài việc mang lại thu nhập từ việc cung cấp nông sản hàng hóa, còn là nguồn thu nhập lớn từ việc phục vụ cảnh quan cho khách du lịch.2 Đặc điểm của nông nghiệp ven đô Nông thôn ven đô có những đặc điểm khác với những vùng nông thôn khác, đó là: Thứ nhất, có sự gia tăng mạnh về dân số, trong đó gia tăng dân số cơ học cao hơn gia tăng dân số tự nhiên. Dân số ven đô luôn được bổ sung bởi sự điều chỉnh dân số từ nội thành ra và các nơi khác đến. Đó là lý do tồn tại một xã hội nông thôn ven đô đa dạng dân số về nghề nghiệp, trình độ dân trí. Thứ hai, đa số người dân sống ở ven đô bị tách biệt giữa nơi ở và nơi làm việc.
Các hoạt động phi nông nghiệp cạnh tranh về lao động khá lớn với nông nghiệp và thu hút lao động trẻ. 10 Thứ ba, cơ sở hạ tầng vùng nông thôn ven đô tương đối tốt nhưng không gian nông thôn bị chia cắt bởi đô thị hóa gây khó khăn cho sinh hoạt và lao động của người dân. Những đặc điểm của nông thôn ven đô có ảnh hưởng lớn đến đặc điểm của nông nghiệp ven đô, cụ thể: 1.1 Sản xuất nông nghiệp ven đô mang tính khu vực rõ rệt Thực tế cho thấy ở đâu có lao động và có đất là có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên ở mỗi vùng đô thị hóa lại có điều kiện đất đai và thời tiết, khí hậu, quá trình đô thị hóa rất khác nhau.
Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn xảy ra đô thị hóa, đất đai thu hẹp khác nhau. Vì vậy, diễn ra các hoạt động nông nghiệp không giống nhau. Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất. Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng ven đô đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét.
Chính đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp ven đô phải chú ý các vấn đề kinh tế - kỹ thuật: (1) tiến hành điều tra điều kiện đất đai khí hậu để quy hoạch bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp; (2) xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở kỹ thuật phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ven đô trong vùng.2 Sản xuất nông nghiệp ven đô không ổn định do sự mở rộng đô thị Tốc độ đô thị hóa ngày cành nhanh cùng với chính sách quy hoạch đô thị chưa đồng bộ và khả năng kiểm soát sự phát triển đô thị còn hạn chế ảnh hưởng mạnh đến tính ổn định của nông nghiệp. Thành phố càng phát triển, càng tồn tại nhiều hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ do đất đai phục vụ nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và giá đất ngày một tăng. Có thể thấy rõ ràng rằng ruộng đất phục vụ nông nghiệp ven đô bị giới hạn về diện tích, khó để tăng thêm theo ý muốn chủ quan tuy nhiên sức sản xuất của của ruộng đất là không có giới hạn. Nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu tăng lên về nông sản phẩm.3 Sản xuất nông nghiệp ven đô chịu nhiều ảnh hưởng của sự ô nhiễm đô thị Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được tuy nhiên sự ô nhiễm của đô thị đang ngày càng gây ô nhiễm đến đất nông nghiệp ven đô đặc biệt là đất nông nghiệp gần các khu, cụm công nghiệp.
Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quý trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng mầu mỡ, sản xuất ra nhiều đơn vị sản phẩm trên mỗi diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm.4 Sản xuất nông nghiệp ven đô có tính thời vụ cao Đây là nét đặc thù điển hình nhất của nông nghiệp bởi vì một mặt sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ với nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp ven đô. Tính thời vụ trong nông nghiệp ven đô là không thể xóa bỏ được tuy nhiên hiện tại tính thời vụ của nông nghiệp ven đô cũng đang trong quá trình dần bị xóa bỏ do có nhiều lợi thế về thị trường, nông nghiệp ven đô thường phát triển các sản phẩm tươi sống tạo ra nền nông nghiệp khá khác biệt với đặc điểm thông thường của nông nghiệp nói chung.3 Vai trò của nông nghiệp ven đô *Đáp ứng nhu cầu nông sản khổng lồ ở ngay thành phố, nhất là nông sản hàng hóa chất lượng cao Cung cấp lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản xã hội là vai trò cơ bản của nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp ven đô. Trong tiến trình đô thị hóa, nguồn lực giành cho sản xuất nông nghiệp nói chung và nông nghiệp ven đô nói riêng bị thu hẹp trong khi đó nhu cầu lương thực, thực phẩm của xã hội về số lượng và chất lượng ngày càng cao. An ninh lương thực và an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề đang rất được quan tâm hiện nay tại các đô thị.
Quy mô dân số không ngừng gia tăng trong quá trình đô thị hóa, quá trình này cũng đồng thời đẩy các hộ dân nghèo ven đô vào tình thế mất tư liệu sản xuất chính và vấn đề gia tăng các hộ khó khăn, hộ thu nhập thấp 12 ở khu vực đô thị càng ngày càng khó kiểm soát. Bản thân nguồn cung lương thực, thực phẩm chất lượng cao với giá đắt đỏ chỉ hướng đến các hộ thu nhập cao vì vậy nguy cơ thiếu hụt nguồn lương thực cơ bản đáp ứng cho các hộ khó khăn ngày càng trở nên hiện hữu. Vì vậy phát triển nông nghiệp ven đô là cứu cánh duy nhất cho vấn đề này. Người dân nông thôn có thể tự sản xuất được các nhu cầu lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu trong ngày còn người dân nghèo ven đô thì không thể mua được lương thực thực phẩm nếu không có tiền.
Do vậy nguy cơ thiếu lương thực, dinh dưỡng ở người dân thành thị và ven đô lớn hơn so với nông thôn, nhất là trong điều kiện giá cả các mặt hàng thiết yếu gia tăng mạnh như hiện nay.