ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xa xưa, khi sinh sống bằng hái lượm và săn bắn, con người đã biết bảo vệ rừng và săn bắn theo quy luật; các kiến thức về bảo vệ thiên nhiên đó ngày càng được phát triển và biểu hiện là việc thành lập hệ thống các khu bảo tồn/vườn quốc gia ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Đến nay con người đã áp dụng nhiều phương thức nhằm phòng chống sự suy thoái và phục hồi tài nguyên thiên nhiên; các phương thức này đều tuân theo một trong hai quan điểm về bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Quan điểm thứ nhất cho rằng phải bảo tồn tài nguyên thiên nhiên một cách nghiêm ngặt, nghĩa là không được phép khai thác bằng bất cứ hình thức nào, vì bất cứ lý do gì; phải cô lập tài nguyên thiên nhiên với con người, phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên bằng đội ngũ kiểm lâm có vũ trang. Quan điểm thứ hai cho rằng người dân địa phương phải tham gia vào việc bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên trong khu vực họ sinh sống (Michael và cộng sự, 2004).
Trên thực tế; cho dù những can thiệp bảo tồn được xây dựng theo quan điểm nào cũng đều nhằm vào hành vi của con người và tác động của con người đến tài nguyên thiên nhiên; do đó công tác giáo dục bảo tồn đóng một vai trò then chốt trong giải quyết các nguyên nhân sâu xa về kinh tế - xã hội khiến con người có cách ứng xử không thân thiện với động thực vật hoang dã. Do có tầm quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (KBTTN Pù Luông) được xem là một bộ phận của cảnh quan ưu tiên bảo tồn Pù Luông - Cúc Phương và hệ sinh thái rừng núi đất đai thấp còn lại ở miền Bắc Việt Nam (Furey, N. Hầu hết các kết quả điều tra nghiên cứu đa dạng sinh học tại KBTTN Pù Luông đã chỉ ra các hoạt động của con người làm suy thoái tài nguyên môi trường; tuy nhiên, hành vi của con người lại thường ít được xem xét hoặc thậm chí bỏ qua. Bởi 2 vậy, cần thiết phải xây dựng một chương trình giáo dục bảo tồn hướng đến xóa bỏ các rào cản dẫn đến cách ứng xử không thân thiện với động thực vật hoang dã, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
Xuất phát từ bối cảnh trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp giáo dục bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa”, với mong muốn cung cấp căn cứ khoa học để triển khai các hoạt động giáo dục bảo tồn tại khu vực nghiên cứu. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lƣợc sử phát triển của giáo dục môi trƣờng và giáo dục bảo tồn Giáo dục môi trường (GDMT) đã hình thành ở nước Anh vào cuối thế kỷ XIX. Sir Patrick Geddes, một giáo sư thực vật học người Scotland, là người đầu tiên chỉ ra mối liên hệ quan trọng giữa chất lượng môi trường với chất lượng giáo dục vào khoảng năm 1892.
Gedes cũng là người đi đầu trong việc giảng dạy những chiến lược tạo cơ hội cho người học tiếp xúc trực tiếp với môi trường xung quanh. Bước sang thế kỷ XX khái niệm GDMT phát triển rất nhanh, các nhà nghiên cứu có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về GDMT và tìm hiểu xem GDMT thực hiện như thế nào? Kết quả dự định là gì? Nhiều hội nghị quốc tế đã diễn ra như: Hội nghị quốc tế về GDMT trong chương trình học đường do IUCN/UNESCO tổ chức tại Nevada, Mỹ năm 1970; Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về Môi trường nhân văn tại Stockholm, Thuỵ Điển năm 1972; Hội nghị quốc tế về GDMT ở Belgrade năm 1975… Nhưng phải đến Hội nghị liên Chính phủ lần thứ nhất về GDMT tại Tbilisi, Grudia năm 1977 mới chính thức tán thành trên quy mô toàn cầu định nghĩa: “Giáo dục môi trường là một quá trình tạo dựng cho con người những nhận thức và mối quan tâm đối với môi trường, sao cho mọi người đều có đầy đủ kiến thức, thái độ, ý thức và kỹ năng để có thể hoạt động một cách độc lập hoặc phối hợp, nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề môi trường hiện tại và ngăn chặn những vấn đề tiêu cực có thể nảy sinh trong tương lai”. Cũng tại Hội nghị này đã đưa ra các mục đích chính của GDMT như sau: - Tăng cường nhận thức đầy đủ và sự quan tâm đến các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế, xã hội, chính trị và sinh thái tại các khu vực thành thị cũng như nông thôn; 4 - Cung cấp cho mọi người những kiến thức, quan điểm về giá trị, thái độ, ý thức và các kỹ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường; - Tạo ra các mô hình về hành vi bảo vệ môi trường cho các cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội; - Khuyến khích, củng cố và phát huy những thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường hiện có. GDMT tập trung vào các mục tiêu sau: 1.
Kiến thức: GDMT nhằm cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng những kiến thức cũng như sự hiểu biết cơ bản về môi trường và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và môi trường; 2. Nhận thức: GDMT thúc đẩy các cá nhân, cộng đồng xã hội tạo dựng nhận thức và sự nhạy cảm đối với môi trường cũng như các vấn đề môi trường; 3. Thái độ: GDMT khuyến khích các cá nhân, cộng đồng xã hội tôn trọng và quan tâm tới tầm quan trọng của môi trường; 4. Kỹ năng: GDMT cung cấp các kỹ năng trong việc xác định, dự đoán, ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường; 5.
Sự tham gia: GDMT cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng xã hội cơ hội tham gia tích cực trong việc giải quyết các vấn đề môi trường cũng như đưa ra các quyết định môi trường đúng đắn. Để đạt được mục tiêu trên, một hệ thống các nguyên tắc hướng dẫn cho những người làm công tác GDMT đã được thiết lập. Đó là: GDMT phải coi môi trường là một tổng thể hoàn chỉnh về mặt tự nhiên hay nhân tạo, kỹ thuật hay xã hội (bao gồm các mặt như kinh tế, kỹ thuật, văn hoá - lịch sử, đạo đức và thẩm mỹ); GDMT là một quá trình lâu dài và mang tính liên tục, bắt đầu từ cấp học mầm non và tiếp diễn qua tất cả mọi hình thức giáo dục chính quy hoặc không chính quy; 5 GDMT cần mang tính liên ngành. Nó có thể được xây dựng từ những nội dung cụ thể của mỗi môn học, ngành học để hình thành nên những quan điểm hoàn chỉnh và cân bằng; GDMT cần xem xét các vấn đề môi trường cơ bản trên quan điểm địa phương, quốc gia, khu vực và quốc tế nhằm giúp học sinh hiểu được điều kiện môi trường của các vùng địa lý khác nhau; GDMT cần chú trọng đến các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, đồng thời có tính đến các bối cảnh lịch sử; GDMT phải đề cao giá trị và sự cần thiết của việc hợp tác ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế trong việc ngăn chặn và giải quyết các vấn đề môi trường; GDMT cần có tác dụng hỗ trợ các lĩnh vực khác xem xét thấu đáo các phương diện môi trường trong quá trình hoạch định phát triển; GDMT phải tạo điều kiện để người học thực hành những điều được học và giúp họ có cơ hội tự ra quyết định cũng như chịu trách nhiệm với các quyết định đó; GDMT phải bao gồm các nội dung về sự nhạy cảm môi trường, kiến thức cũng như kỹ năng giải quyết các vấn đề môi trường và phân loại các giá trị môi trường; GDMT cần giúp người học nhận biết các hiện tượng và nguyên nhân sâu xa của các vấn đề môi trường; GDMT cần nhấn mạnh mức độ phức tạp của các vấn đề môi trường và sự cần thiết phải phát triển kỹ năng suy nghĩ thấu đáo cũng như kỹ năng giải quyết các vấn đề môi trường; GDMT cần sử dụng môi trường học tập đa dạng với nhiều cách tiếp cận đối với việc dạy và học về môi trường, trong (thông qua) môi trường và vì môi trường; tập trung vào các hoạt động thực hành và kinh nghiệm thực tế.
6 Trước đây, GDMT thường chú trọng đến việc giáo dục về môi trường, nghĩa là mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức và nhận thức về môi trường cho học sinh trong khuôn khổ trường học. Từ những năm 1970, GDMT đã dần đi theo hướng tiếp cận hoàn thiện hơn cả về nội dung và đối tượng giáo dục. Ngày nay, GDMT nhằm tạo ra những con người không những có kiến thức mà còn có thái độ tích cực và sẵn sàng hành động vì môi trường. Có ba cách tiếp cận để thực hiện GDMT đã được thừa nhận là: Giáo dục về môi trường: Cung cấp cho người học những kiến thức thực tế về môi trường và những tác động của con người tới môi trường; 1.
Giáo dục trong môi trường: Sử dụng môi trường như một giáo cụ hay một phòng thí nghiệm tự nhiên nhằm cung cấp kiến thức và kỹ năng bảo vệ môi trường. Điều này giúp phát triển các quan điểm về giá trị và hình thành những thái độ tích cực; 2. Giáo dục vì môi trường: Xây dựng ý thức và sự quan tâm sâu sắc đến môi trường sống của con người, đồng thời tăng cường trách nhiệm của con người trong việc chăm sóc và bảo vệ môi trường. Mục tiêu của cách tiếp cận này là tạo dựng thái độ và kiến thức nhằm tác động vào mọi người khiến họ đồng loạt hành động nhằm mang lại lợi ích cho trái đất.
Sự kết hợp của cả ba cách tiếp cận này sẽ tạo ra một phương pháp tiếp cận toàn diện, cho phép các cá nhân và cộng đồng có được những kiến thức, quan điểm về giá trị, thái độ, ý thức và kỹ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường. Năm 1980, Chiến lược Bảo tồn Thế giới nhấn mạnh bản chất độc lập của tất cả các hợp phần trong sinh quyển, trong đó có loài người, từ đó trực tiếp liên hệ tương lai của các hệ thống hỗ trợ cuộc sống trên hành tinh với hành vi của con người và các quyết định phát triển. Chiến lược kêu gọi cần có một “đạo lý” mới trong xã hội loài người để chung sống hài hoà với thế giới tự 7 nhiên mà con người vốn vẫn phải phụ thuộc để sinh tồn và phát triển.