Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Phương pháp dạy học (PPDH) đã được thể hiện trong những quan điểm của nhiều nhà triết học đồng thời là nhà Giáo dục (GD) ngay từ thời cổ đại. Đức khổng Tử (551-479 TCN) đã giúp học trò phát triển bằng cách khuyến khích sở trường và phê bình sở đoản, phương châm chính của dạy học là khải phát (gợi mở). Socrates (469-399TCN) đã đề xuất thực hiện phương pháp đàm thoại trong dạy học và được sử dụng cho đến ngày nay.Komemxki (1592-1670), nhà sư phạm lỗi lạc đã phân tích các hiện tượng trong tự nhiên và hiện thực để đưa ra các biện pháp dạy học buộc HS phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật hiện tượng.Distecvec thì cho rằng, người GV tồi là người cung cấp cho học sinh chân lý, người GV giỏi là người dạy cho họ tìm ra chân lý.
Nhiều nhà GD tiêu biểu xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX như: A.Macarenco (1888-1938), Jean Piaget (1896-1980),… cũng có quan điểm hướng đến sự tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học. Dạy học là một hiện tượng xã hội, được thực hiện ngay từ khi xã hội loài người mới hình thành nhằm truyền đạt kinh nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau. Trong quá trình dạy học, người thầy luôn tìm tòi những PPDH thích hợp nhất để giúp cho người học lĩnh hội được những nội dung dạy học. Với tầm quan trọng như vậy, PPDH đã được các nhà giáo dục trong nước và trên thế giới quan tâm nghiên cứu.
Quản lý PPDH là quản lý một quá trình xã hội đặc thù, có vai trò quan trọng và cần thiết. Chiến lược phát triển Giáo dục(GD) giai đoạn 2011-2020 khẳng định: 9 “Phát triển GD là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển; GD vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triền kinh tế-xã hội”. Ở Việt Nam, ngay những ngày đầu của nền GD cách mạng, trong thư gửi cho HS nhân ngày khai trường, Bác Hồ đã viết: “Từ giờ phút này trở đi, các cháu được hưởng một nền GD hoàn toàn Việt Nam (…) làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các cháu.” Nội dung bức thư như là một định hướng cho sự phát triển của PPDH, dạy học cần làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của người học. Ngày nay, PPDH đã trở thành một vấn đề thời sự được nhiều nhà GD quan tâm.
Đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đổi mới PPDH, như: tác giả Hà Thế Ngữ (2001): Giáo dục học một số vấn đề lí luận và thực tiễn; Thái Duy Tuyên (2001): Giáo dục học hiện đại; Nguyễn Đào-Quý Châu (2007): Những kĩ năng và lời khuyên thực tế để cải tiến PP giảng dạy. Trong thời gian qua, vấn đề đổi mới PPDH và QL việc đổi mới PPDH được các luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục nghiên cứu, như: Mai Thị Tuyết (2004), Một số biện pháp quản lí của HT nhằm đổi mới PPDH ở các trường trung học cơ sở thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Huế. Tôn Thất Viễn Tương (2006), Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với việc đổi mới PPDH ở các trường trung học phổ thông thành phố Huế, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Huế. Trần Hải (2007), Các biện pháp quản lý tăng cường đổi mới PPDH của Hiệu trưởng trường TH huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Huế.
Phạm Ngọc Thắng (2008), Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trong việc đổi mới PPDH ở các trường trung học phổ thông tỉnh Khánh Hòa, Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục, Huế. 10 Lã Mạnh Hà (2011), Biện pháp quản lý đổi mới PPDH ở các trường trung học phổ thông tỉnh Đắk Lắk, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Quy Nhơn. Phan Minh Tuấn (2014), Một số giải pháp quản lý đổi mới PPDH ở các trường TH huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục. Hồ Văn Dũng (2016), Biện pháp quản lý đổi mới PPDH ở các trường trung học trung học cơ sở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Huế.
Các tác giả trên đã coi việc đổi mới PPDH là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học trên những địa bàn khác nhau. Những vấn đề lí luận và thực tiễn đã được các tác giả tổng kết, đó là những kinh nghiệm làm chỗ dựa cho quá trình nghiên cứu của chúng tôi. Tại các trường TH huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, vấn đề đổi mới PPDH đã được đặt ra, nhưng việc “Quản lý đổi mới PPDH ở các trường TH huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông” chưa được quan tâm chú ý, đặc biệt là chưa có những hướng dẫn và quy định cụ thể để thực hiện với từng môn học, từng bài dạy trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng, xác lập các biện pháp QL việc đổi mới PPDH ở các trường TH huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông là rất cần thiết, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy - học trong nhà trường TH, đáp ứng yêu cầu phát triển GD của huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý; Quản lý giáo dục; Quản lý nhà trường 1. Quản lý Khái niệm QL là khái niệm rất chung, tổng quát, trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận QL, khái niệm QL đã được các nhà nghiên cứu 11 đưa ra theo nhiều cách khác nhau, tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau: Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “QL trông coi và giữ gìn; là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [34, tr. QL vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật của người QL trong điều khiển hệ thống xã hội.
Hoạt động QL bắt đầu từ sự phân công, hợp tác lao động khi xã hội phát triển. QL đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển các hoạt động xã hội. Theo tác giả Hà Thế Ngữ: “QL là quá trình dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [22, tr. Theo tác giả Trần Kiểm: “QL là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh.
Điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”[20, tr. Mặc dầu chưa có sự thống nhất trong việc định nghĩa khái niệm “quản lý”, nhưng trên bình diện của các lĩnh vực QL xã hội nói chung, khái niệm QL có các dấu hiệu sau đây: - Hoạt động QL được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. - Hoạt động QL là những tác động có tính hướng đích. - Hoạt động QL là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
QL là một hoạt động được tiến hành dựa trên sự phối hợp giữa các cá nhân của một tổ chức hay một nhóm xã hội có tính hướng đích để thực hiện mục tiêu của tổ chức hay nhóm xã hội đã đề ra. Những tiếp cận và quan niệm về QL trên đây có khác nhau nhưng có 12 điểm chung là phản ánh được bản chất và mục đích của QL. Trên cơ sở đó, có thể khái quát: QL là tác động có ý thức, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên khách thể QL trong mỗi tổ chức bằng việc vận dụng các chức năng QL, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra với chất lượng và hiệu quả tối ưu trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành tốt. Quản lý giáo dục Giống như khái niệm “quản lý”, khái niệm “quản lý giáo dục”cũng có nhiều quan niệm khác nhau.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QLGD là quản lý trường học, thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD, để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và từng HS. Tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [1, tr. Như vậy, có thể hiểu: QLGD là một loại hình QL xã hội. QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật giữa chủ thể QLGD và khách thể QLGD nhằm đạt được mục tiêu GD dự kiến ở từng cấp QL.
Quản lý nhà trường Nhà trường là cơ quan GD chuyên biệt thực hiện chức năng GD của Nhà nước, của cộng đồng và của xã hội. Nhà trường có nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, những người có ích cho xã hội. Toàn bộ hoạt động của nhà trường đều hướng đến thực hiện mục tiêu đào tạo. QL nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích.
Có kế hoạch, 13 hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để đạt tới mục tiêu GD đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của đất nước đối với ngành GD. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QL nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và từng HS” [12, tr. QL nhà trường thực chất là QL trên tất cả các mặt, các khía cạnh khác nhau có liên quan đến hoạt động GD trong phạm vi một nhà trường. Tiêu điểm của GD trong phạm vi nhà trường là HĐDH và GD, bao gồm: - Quản lý CTDH và GD của nhà trường.
- Quản lý GV và phát triển nghề nghiệp của người dạy. - Quản lý HS và các hoạt động của người học. - Quản lý thiết bị, cơ sở vật chất và những điều kiện đảm bảo cho hoạt động của nhà trường đạt được mục tiêu đã đặt ra.