Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Sự ra đời của TH vào đầu thế ki XX đã góp phan làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh. Sự phát triển như vũ bão của TH nhờ vào sự tiễn bộ của khoa học kỹ thuật đã tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống XH. TH VN đã có những tiến bộ vượt bậc trong những năm gần đây, đã tiếp cận và áp dụng nhiều công nghệ sản xuất chương trình, công nghệ truyền dẫn phát sóng hiện đại của thế giới. TH, với độ phủ sóng đạt đến 90% các hộ gia đình trên toàn quốc đã trở thành phương tiện chiếm ưu thế trong các loại hình báo chí truyền thông.
TH đã trở thành một nhu cầu không thê thiếu đối với công chúng. Ưu thế số một của TH hiện nay là đáp ứng cao nhất nhu cầu thông tin giải trí. Cuộc sống càng hiện đại, con người càng phải làm việc căng thắng thì nhu cầu giải trí ngày càng cao. Khả năng và tốc độ phát triển của công nghệ thông tin đang ngày càng ảnh hưởng đến tốc độ sản xuất và chất lượng sản phẩm TH.
Bước chuyên của báo chí, của TH sang công nghệ số đang đang mở ra những triển vọng chưa từng có cho ngành. Song dé tồn tai và phát triển, các phương tiện truyền thông đại chúng không phải chỉ phát triển cơ sở kỹ thuật công nghệ mà cả việc hoàn thiện về nghề nghiệp cho nguồn nhân lực của mình. Đây là vấn đề trọng tâm mà luận văn này muốn hướng đến, đó là việc đào tạo nguôn nhân lực chuyên nghiệp cho lĩnh vực TH. Chỉ có như vậy mới mong có được nhiều CTTH hay, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khán giả xem đài.
Bất cứ lãnh đạo của một đơn vị nào cũng hiểu được tam quan trọng của việc đào tạo đối với đội ngũ nhân viên. Điều mà đơn vị kỳ vọng đó là hành 14 động của nhân viên sau đào tạo. Các kiến thức và kỹ năng được học sẽ áp dụng và biến thành hành động nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển chiến lược của đơn vị. Mong muốn hoàn thiện nguồn nhân lực KH&CN dé nâng cao chất lượng CTTH là mục tiêu mà HTV hướng đến.
Dé làm rõ vấn đề nay, trước hết học viên sẽ đưa ra những khái niệm cũng như lý luận sau đây để làm cơ sở cho giải pháp của luận văn. KHÁI NIỆM NGUÒN NHÂN LỰC Trong hầu hết các Đại hội Đảng và nhiều văn kiện quan trọng khác nhau của Dang đã khang định: con người là vốn quý nhất, việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người VN là nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm quán triệt tư tưởng chăm lo bồi dưỡng và phát huy nhân tô con người, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện con người VN. Nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là một khái niệm được các nhà quản lý nhắc đến rất nhiều, nhất là trong điều kiện các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác cạn kiệt như hiện nay.
Một quốc gia muốn phát triển thì cần đảm bảo hài hòa các nguồn lực. Trong đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định cho sự tăng trưởng và phát triển KT của mọi quốc gia. Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên hiệp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước ”.13] 15 Ngân hang Thê giới cho rang nguôn nhân lực là toàn bộ von con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,.
của mỗi cá nhân. Theo Tổ chức Lao động quốc tế thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Trong lĩnh vực KT phát triển, nguồn nhân lực được nhận diện là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng.
Về số lượng, đó là tong số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nha nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ. Về chất lượng, đó là sức khỏe và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Từ những quan niệm trên, có thé hiểu: nguồn nhân lực là tổng hòa thé lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động XH của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng dé sản xuất ra của cải vật chất va tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Đó là lực lượng bao gồm những người lao động “có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đảo tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nên giáo dục tiên tiễn găn liên với một nên khoa học hiện đạt”.
Ý nghĩa của nguồn nhân lực mà đề tai sử dụng có thể hiểu ngắn gọn là một trong những yếu tố đầu vào dé sản sinh những thành quả mong muốn nhưng lại mang tam quan trọng có tính quyết định bởi các phẩm chất, các giá trị mà nó có được như trên vừa trình bày. Điều đó thật sự có ý nghĩa chiến lược đối với một đơn vị truyền thông, bởi vì yêu tố quyết định chất lượng sản phẩm TH chính là con người. Và những sản phẩm này đều nhằm vào mục tiêu lớn nhất là vì con người, phục vu con người. 16 Trong luận văn này, nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn nhân lực của một tô chức don vi, cụ thé là của HTV, bao gồm toàn bộ đội ngũ con người có khả năng tham gia hoặc đang tham gia vào khung công việc cua đơn vị truyền thông TH, từ cán bộ quản lý đến nhân viên.
KHÁI NIỆM NGUÒN NHÂN LỰC KH&CH Theo UNESCO: nhân lực KH&CN là "những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức va được trả lương hay thù lao cho hoạt động của họ, bao gom các nhà khoa học va kỹ su, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ. Trong đó, hoạt động KH&CN theo UNESCO là những hoạt động gồm nghiên cứu triển khai, giáo dục đảo tạo và các dịch vụ. Nó có tính chất hệ thong va lién quan chat ché dén viéc tao ra, phat triển, phô bién kiến thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN. Nhân lực KH&CN là toàn bộ số người tham gia trực tiếp các hoạt động KH&CN có tổ chức.
Đặc biệt, khái niệm về nhân lực KH&CN của UNESCO không bao hàm đội ngũ KH&CN dạng tiềm năng, cũng không theo bằng cấp mà dựa trên nghề nghiệp. Trong khi đó, định nghĩa nhân lực KH&CN của OECD: nguồn nhân lực KH&CN dựa trên trình độ và công việc. Theo đó, nguồn nhân lực KH&CN gồm những người đáp ứng được một trong các điều kiện sau: - Đã tốt nghiệp trường đảo tạo trình độ nhất định nào đó về một chuyên môn KH&CN. - Không được đào tạo chính thức như đã nói ở trên nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên.
Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc. 17 Từ định nghĩa của UNESCO, của OECD và để phù hợp với thực tế ở VN có thê nêu định nghĩa về nguồn nhân lực KH&CN như sau: toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực KH&CN, và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp nhưng tham gia một cách thường xuyên (hệ thống) vào hoạt động KH&CN. Trong hệ thống các nguồn lực XH, nguồn lực KH&CN có đặc điểm chung của các nguồn lực khác, nhưng có khác biệt ở chỗ, các nguồn lực khác chỉ là hữu han va sẽ cạn kiệt trong qua trình khai thác, sử dụng và chi ton tại dưới đạng tiềm năng và nó không thể tự phát huy tác dụng nếu không có sự tác động của con người, của KH&CN. Trái lại, nguồn nhân lực KH&CN là nguồn lực trí tuệ và tiềm năng của nó là vô tận.
Nếu được sử dụng và phát triển hợp lý trong môi trường thuận lợi thì nguồn lực trí tuệ đó sẽ được nhân lên và không ngừng phát triển, trở thành sức mạnh có vai trò quyết định đến sự phát trién của tô chức, đơn vi, quôc gia. Tóm lại, nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ tiềm năng lao động, là tập hợp những nhóm người tham gia vào hoạt động KH&CN với các chức năng nghiên cứu, sáng tạo, giảng dạy, quản lý, chuyền giao công nghệ, khai thác sử dụng và tác nghiệp, góp phần quyết định sự tiến bộ của KH&CN, phục vụ cho sự nghiệp phát triển của XH. Đây cũng là khái niệm nguồn nhân lực KH&CN được sử dụng trong luận văn này nhằm xác định nguồn nhân lực là những người trong độ tuổi lao động, tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định nào đó, có khả năng lao động đồng thời xác định sự khác biệt do phân công lao động giữa người lao động phổ thông và người lao động được dao tạo trong môi trường KH&CN có tính hệ thống. Cu thé là nguồn nhân lực KH&CN tại một đơn vị truyền thông TH như HTV.
KHÁI NIỆM NGUÒN NHÂN LỰC KH&CN TRUYEN HÌNH 1. Truyền hình Ké từ những năm cuối thập niên 30 của thé ky XX, thời điểm đánh dấu sự ra đời của TH ở Anh va Mỹ đến nay, vô tuyến TH ngày càng phô biến và trở thành phương tiện truyền thông mang tính quần chúng rộng rãi. Kỹ thuật ngày càng hiện đại đã giúp cho TH trở thành phương tiện truyền tin nhanh nhạy và hấp dẫn nhất. Sự phát triển này không chỉ dựa vào những thành tựu mới nhất của KH&CN mà còn dựa vào thay đổi tâm lý thưởng ngoạn và việc cải tiên liên tục về mặt nội dung chương trình.
Nhờ sự tiến bộ của KH&CN mà TH đã có những tiến bộ vượt bậc. Trong đó, từ công nghệ tương tự sang công nghệ số, ngành TH hiện tại đang phải đối mặt với rất nhiều sự đổi thay. Sự đối thay từ một chiều, đơn điệu, riêng lẻ sang đa chiều đa dạng, hội tụ với những cơ hội và thách thức đan xen. Nhưng đây không là một xu thế có thể đảo ngược.
Khi chấp nhận, điều đó đồng nghĩa với việc phải thích nghi với yêu cầu cạnh tranh, một yêu cầu mang tính chuyên nghiệp.