MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nguồn lực con người là nhân tố quyết định cơ bản trong các nguồn lực cần thiết cho sự phát triển của đất nước đặc biệt trong thời điểm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế hiện nay. Chủ trương này đặc biệt đòi hỏi nhân lực nước ta, đặc biệt là lớp trẻ cần có một vốn tri thức khoa học và ngoại ngữ đầy đủ để đáp ứng nhu cầu ngoại giao về kinh tế, văn hóa, chính trị… Vì vậy ngay từ khi lớp nhân lực trẻ đang ngồi trên ghế nhà trường, các môn học như ngoại ngữ, khoa học, nghệ thuật đã và đang được chú trọng và từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại như việc giao tiếp bằng ngoại ngữ của học sinh còn kém, cách đưa kiến thức vào chương trình học còn chưa sinh động, hấp dẫn và thực tế như của các nước phát triển,…Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh được giao tiếp bằng ngoại ngữ hàng ngày? Làm thế nào để lồng ghép ngoại ngữ vào các môn học? Và làm thế nào để học sinh được tiếp cận cách học mới từ nước ngoài? Hiện nay, các trường học, lớp học theo mô hình dạy học song ngữ đang phát triển rất nhanh do nhận thấy các vấn đề cấp thiết này.
Một trong các môn học được ưu tiên thử nghiệm đầu tiên đó là dạy học Toán song ngữ Anh – Việt bởi hai lí do. Thứ nhất, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất để giao tiếp trên thế giới. Thứ hai, Toán học là môn học có ngôn ngữ rõ ràng, trong sáng và tương đối đơn giản. Học sinh không cần phải mất nhiều thời gian mà vẫn có đủ vốn từ để có thể theo học.
Hơn nữa học Toán là học cách tư duy, học Toán bằng tiếng Anh là học cách tư duy trực tiếp bằng tiếng Anh.Cách học này nhằm khắc phục nhược điểm “học nhưng không sử dụng được” của 1 z một bộ phận lớn người học ở nước ta, đưa tiếng Anh từ ngoại ngữ (foreign language) trở thành ngôn ngữ thứ hai (second language). Nhận thấy đây là một vấn đề cấp thiết, cần và sẽ được triển khai mạnh mẽ của giáo dục nước ta hiện nay, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Dạy học Toán song ngữ Anh – Việt theo định hướng tích hợp nội dung và ngôn ngữ” với mong muốn sẽ góp phần phân tích về nhiều mặt của mô hình dạy học mới này. Mục tiêu nghiên cứu Phân tích ưu điểm và hạn chế của mô hình dạy học Toán song ngữ Anh – Việt theo định hướng tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL) đối với việc nâng cao chất lượng dạy học. Nhiệm vụ nghiên cứu Thứ nhất: Xác định các yếu tố liên quan đến chất lượng dạy học.
Thứ hai: Phân tích mô hình dạy học Toán song ngữ Anh – Việt theo định hướng tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL). Thứ ba: Thiết kế nội dung dạy học một số bài học theo định hướng CLIL. Thứ tư: Thực nghiệm chất lượng dạy học trước và sau khi áp dụng mô hình CLIL. Khách thể và đối tượng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu là học sinh trường Phổ thông Quốc tế Newton Grammar School.
Đối tượng nghiên cứu là mô hình dạy học Toán song ngữ Anh – Việt theo định hướng tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL) 5. Phạm vi nghiên cứu - Thời gian: một năm - Học sinh cấp trung học cơ sở. Mẫu khảo sát Học sinh khối 6 và khối 8 trường Phổ thông Quốc tế Newton Grammar School. Vấn đề nghiên cứu Dạy học Toán song ngữ Anh – Việt theo định hướng tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL) có nâng cao được chất lượng dạy học không? Có những ưu điểm và hạn chế gì? 8.
Giả thuyết nghiên cứu Dạy học Toán song ngữ Anh – Việt theo định hướng tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL) nâng cao được chất lượng dạy học. Mô hình này giúp học sinh tăng khả năng tiếng Anh hơn tuy nhiên làm tăng thời gian học tập của học sinh. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: - Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sưu tầm, đọc, nghiên cứu các bài báo, luận văn, sách tham khảo về phương trình vô tỉ và tư duy phê phán. - Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia.
- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê và phân tích thống kê. Dự kiến luận cứ Luận cứ lý thuyết. a) Các khái niệm - Mô hình CLIL, chất lượng, chất lượng dạy học. b) Các phạm trù - Tâm lý học.
- Giáo dục học. c) Liên hệ - Tiếng Anh là rất cần thiết để hội nhập thế giới cho thế hệ trẻ. 3 z - Cách dạy học các môn học bằng tiếng Anh vừa rèn luyện nhiều kĩ năng tiếng Anh cho học sinh, vừa giúp các em dễ dàng tiếp xúc với các tài liệu nước ngoài và rèn tư duy trực tiếp một lần với tiếng Anh chứ không cần dịch qua dịch lại hai ngôn ngữ. - Dạy học Toán bằng tiếng Anh theo mô hình CLIL là hợp lý vì Toán là môn học trực quan, ít ngôn ngữ phức tạp, mang tính khoa học cao nên dễ dàng với nhiều đối tượng học sinh.
Luận cứ thực tế - Đánh giá thực nghiệm về học sinh các trường song ngữ sau khi học Toán bằng tiếng Anh theo mô hình CLIL. - Ban đầu học sinh đều chưa phản xạ tốt với tiếng Anh. Sau khi học được một thời gian theo mô hình CLIL, phần lớn các học sinh đều tăng khả năng học tiếng Anh, vốn từ và kĩ năng sử dụng tiếng Anh cũng như kiến thức của môn Toán, ít nhất là phản xạ và giao tiếp trong môn Toán. Sự cần thiết của dạy học song ngữ Anh – Việt 1.
Khái niệm dạy học "Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích luỹ được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân" [xem 2, tr 18]. "Quá trình dạy học là một quá trình sư phạm bộ phận, một phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển giáo dục và giáo dục phẩm chất, nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức và thực hành" [xem 4, tr 25]. Dạy học được nghiên cứu theo quan điểm là một quá trình. Quá trình dạy học bao gồm hai quá trình đó là quá trình dạy của thầy và quá trình học của trò.
Hai quá trình này có mối quan hệ biện chứng, tồn tại vì nhau, sinh ra vì nhau và thúc đẩy nhau phát triển. - Học là quá trình tự giác tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học của học sinh biến nó từ kho tàng văn hóa xã hội thành học vấn riêng của bản thân, học sinh sẽ hình thành cho mình một thái độ mới trong việc đánh giá các giá trị tinh thần vật chất của thế giới khách quan, một phẩm chất đạo đức mới, dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên. Đó là quá tình tự điều khiển tối ưu, sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện. - Dạy học là sự tổ chức điều khiển quá trình học sinh chiếm lĩnh, lĩnh hội tri thức hình thành và phát triển nhân cách.
Quá trình dạy học có vai trò chủ đạo được thể hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển sự học tập của học sinh giúp học sinh nắm kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ. Dạy có chức năng kép là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học. 5 z Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động khác trong nhà trường. Vì vậy đó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giúp học sinh lĩnh hội tri thức của loài người.
Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và đời sống. Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc, yêu Chủ nghĩa xã hội, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của học sinh. Vì vậy, có thể nói hoạt động dạy học trong nhà trường đã tô đậm chức năng xã hội của nhà trường, đặc trưng nhiệm vụ của nhà trường và là hoạt động giáo dục trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Khái niệm chất lượng, chất lượng giáo dục và chất lượng dạy học 1.
Chất lượng Chất lượng: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa "Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì? Tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng được biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là sự liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó các sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật.
Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó. Sự thay đổi về chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản. Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất của số lượng và chất lượng" [xem 5, tr 19].
6 z "Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc. Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của một sự vật, phân biệt nó với sự vật khác" [xem 5, tr 7].