CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Định hướng đổi mới giáo dục hiện nay [2], [13] 1. Chương trình giáo dục định hướng nội dung dạy học Theo Tài liệu tập huấn của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong trường trung học phổ thông. Chương trình dạy học truyền thống có thể gọi là chương trình giáo dục “định hướng nội dung” dạy học hay “định hướng đầu vào” (điều khiển đầu vào).
Đặc điểm cơ bản của chương trình giáo dục định hướng nội dung là chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình dạy học. Những nội dung của các môn học này dựa trên các khoa học chuyên ngành tương ứng. Người ta chú trọng việc trang bị cho người học hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên chương trình giáo dục định hướng nội dung chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn.
Mục tiêu dạy học trong chương trình định hướng nội dung được đưa ra một cách chung chung và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được một cách cụ thể nên không đảm bảo rõ ràng về việc đạt được chất lượng dạy học theo mục tiêu đã đề ra. Việc quản lý chất lượng giáo dục ở đây tập trung vào “điều khiển đầu vào” là nội dung dạy học. Ưu điểm của chương trình dạy học định hướng nội dung là việc truyền thụ cho người học một hệ thống tri thức khoa học và hệ thống. Chương trình giáo dục định hướng năng lực Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống trong cuộc sống.
Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức. Ưu điểm của chương trình giáo dục định hướng năng lực là tạo điều kiện quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của HS. Một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng năng lực được so sánh trong bảng dưới đây: 15 z Bảng 1. So sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng năng lực Chương trình định Chương trình định hướng năng lực hướng nội dung Mục tiêu dạy học được mô Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết Mục tiêu tả không chi tiết và không và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện giáo dục nhất thiết phải quan sát, được mức độ tiến bộ của học sinh một cách đánh giá được.
Việc lựa chọn nội dung Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được dựa vào các khoa học kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các chuyên môn, không gắn tình huống thực tiễn. Chương trình chỉ quy Nội dung với các tình huống thực định những nội dung chính, không quy giáo dục tiễn. Nội dung được quy định chi tiết. định chi tiết trong chương trình.
Giáo viên là người truyền Giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ thụ tri thức, là trung tâm học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức. của quá trình dạy học. Học Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết Phương sinh tiếp thu thụ động vấn đề, khả năng giao tiếp,… pháp những tri thức được quy Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương dạy học định sẵn. pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành.
Chủ yếu dạy học lý thuyết Tổ chức hình thức học tập đa dạng; chú ý Hình trên lớp học. các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên thức dạy cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy học mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học. Đánh giá Tiêu chí đánh giá được Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, kết quả xây dựng chủ yếu dựa trên có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học học tập sự ghi nhớ và tái hiện nội tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các của học dung đã học. tình huống thực tiễn.
Phát triển chương trình nhà trường [11], [14] 16 z Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục - đào tạo, đổi mới chương trình, nội dung, PPDH, KT - ĐG, hình thành năng lực sáng tạo,. trên tinh thần tăng cường tính tự chủ, chịu trách nhiệm của các sở GD - ĐT. Chương trình bao gồm: chương trình quốc gia, chương trình địa phương và chương trình nhà trường. Thế nào là chương trình nhà trường - Chương trình nhà trường là sự phát triển của chương trình quốc gia trên cơ sở căn cứ vào mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung dạy học chung.
Từ chương trình quốc gia, mỗi trường căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình để đề xuất mục tiêu, sử dụng và cách thực thi chương trình quốc gia này, đảm bảo chất lượng giáo dục của chương trình. - Phát triển chương trình nhà trường là quá trình cụ thể hóa, sắp xếp lại chương trình Quốc gia phù hợp với thực tiễn địa phương trên cơ sở đảm bảo yêu cầu chung của chương trình Quốc gia; lựa chọn, xây dựng nội dung (phần dành cho nhà trường xác định) và cách thức thực hiện phản ánh đặc trưng và phù hợp với thực tiễn nhà trường (yêu cầu, thành tựu công nghệ thông tin hiện đại, khoa học, công nghệ, .) nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển các phẩm chất, năng lực của người học, thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục. - Chương trình nhà trường bao gồm: + Kiểu hoạt động (tạo tài liệu mới phù hợp với chương trình Quốc gia, tài liệu sẵn có) + Những người tham gia chương trình (nhóm GV, nhóm bộ môn, nhà trường) + Thời gian thực hiện (một phần, ngắn hạn, dài hạn,. Mục đích yêu cầu của việc phát triển chương trình nhà trường Mục đích - Khắc phục chương trình hiện hành, nâng cao chất lượng dạy học - Củng cố cơ chế phối hợp, tăng cường vai trò của các trường phổ thông - Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học - Chuẩn bị cơ sở lí luận và thực tiễn cho đổi mới chương trình sau 2018 Yêu cầu (thực hiện các nguyên tắc) - Nâng cao kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục - Tính logic kiến thức giữa các môn học - Tính khả thi - Tính thời lượng 17 z - Có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các cơ quan quản lí giáo dục ở trường, sở, khoa, các ban ngành, … 1.
Qui trình phát triển chương trình nhà trường Chương trình Quốc Hướng dẫn chương trình của gia địa phương Xác định, phân tích các yếu tố, nhu cầu phát triển của chương trình nhà trường Giám sát, đánh giá Phát triển chương trình (cá nhân, tập thể, nhóm và GV) có sự tham vấn của các đối tượng liên quan điều chỉnh Sản phẩm của chương trình nhà trường (các chủ đề được cụ thể hóa trong KHDH của GV) 1. Các bước trong hoạt động phát triển chương trình nhà trường - Phân tích bối cảnh nhà trường THPT - Xác định mục tiêu của chương trình giáo dục THPT - Thiết kế chuẩn đầu ra - Thiết kế chương trình môn học - Thiết kế chuẩn đầu ra cho môn học - Biên soạn kịch bản bài giảng - Thẩm định chương trình - Triển khai - Đánh giá 1. Năng lực và năng lực hợp tác 1. Khái niệm [1], [2], [13] Khái niệm năng lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau khi dựa trên các dấu hiệu khác nhau của chúng.
Theo John Erspenbeck, “Năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được qui định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được thực hiện hóa qua ý chí”.E Weinert (2001) cho rằng “Năng lực gồm những kỹ năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng 18 z như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”. Theo Benrd Meier, Nguyễn Văn Cường đưa ra định nghĩa: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở vận dụng hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động”. Theo chương trình giáo dục phổ thông của Quebec - Canada thì: “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm giải quyết hiệu quả một nhiệm vụ cụ thể trong bối cảnh nhất định”. Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, “Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính tâm lý cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định”. Như vậy, năng lực là tổ hợp đo lường được các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà một người cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh thực và có nhiều biến động. Để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc có thể đòi hỏi nhiều năng lực khác nhau. Vì năng lực được thể hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụ nên người học cần chuyển hóa những kiến thức, kỹ năng, thái độ có được vào giải quyết những tình huống mới và xảy ra trong môi trường mới.
Các năng lực chung và năng lực đặc thù môn Hóa học [1], [2], [3], [10] Năng lực chung Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu giúp cá nhân có thể sống, làm việc và tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động vào các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội. Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau.