phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 2 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực trạng Chƣơng 2. Biện pháp dạy học môn Phân Lý thuyết Âm nhạc cơ bản. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG 1.
Một số khái niệm và thuật ngữ - Phân môn Lý thuyết Âm nhạc cơ bản Trong cuốn Lý thuyết âm nhạc cơ bản của V.Vakhrameev có viết: Học thuyết về các nhân tố âm nhạc và những mối tƣơng quan của chúng đƣợc giới thiệu trong các môn Lý thuyết âm nhạc. Cơ sở của các môn học này là môn Lý thuyết âm nhạc cơ bản. Giáo trình Lý thuyết Âm nhạc cơ bản phục vụ nghiên cứu các nhân tố cơ bản của âm nhạc nói chung và của giai điệu nói riêng [40; tr. Nhƣ thế chúng tôi có thể hiểu rằng Lý thuyết âm nhạc chính là hệ thống những khái niệm cơ bản để hƣớng dẫn thực hành các môn học liên quan tới âm nhạc và dùng làm cơ sở cho việc hiểu biết về nghệ thuật âm nhạc.
Lý thuyết âm nhạc cơ bản là môn học đòi hỏi khả năng tƣ duy logic của ngƣời học. Trên thực tế, sinh viên gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình học môn này nhƣ việc nhận biết các ký hiệu, hiểu các khái niệm, các nguyên tắc khô khan và nhất là việc thực hành, làm bài tập phần lý thuyết. - Phương pháp dạy học Tƣơng tự nhƣ nhƣ thuật ngữ phƣơng pháp, khái niệm phƣơng pháp dạy học nhận đƣợc sự qua tâm từ nhiều ngƣời và đƣợc đề cập tới trong nhiều công trinh có uy tín. Trong cuốn Lý luận dạy học Đại học Nguyễn Văn Minh (trích dịch), phƣơng pháp dạy học đƣợc định nghĩa là “Phƣơng pháp dạy học là hệ thống những hành động tự giác hên tiếp của con ngƣời nhằm đạt nhằm đạt tới kết quả ứng với mục đích đã vạch ra” [22, Tr.
16], Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Phƣơng pháp dạy học là một hệ thống những hành động có mục đích của GV nhăm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo học sinh lĩnh hội nội dung học vấn” [35, Tr. 8 Có thể thấy các tác giả đều xem phƣơng pháp dạy học là con đƣờng, cách thức, hình thức hoạt động của GV và học sinh trong những diều kiện dạy học xác định, nhằm cho học sinh nắm đƣợc kiến thức, kĩ năng, kỹ xảo của bài học để đạt đƣợc mục đích dạy học đã đặt ra trƣớc đó. Phƣơng pháp dạy học quy định mô liinli tổ chức các hoạt động dạy và học của GV và học sinh. - Phương pháp dạy học âm nhạc Từ những khái niệm về phƣơng pháp dạy học đã đƣợc nêu ở phần trên chúng ta cỏ thể hiểu phƣơng phƣơng pháp dạy học Âm nhạc là những cách thức, hình thức tổ chức của ngƣời dạy nhằm chuyển tải nội dung kiến thức; thúc đẩy phát triển kĩ năng nhận thức khoa học về Âm nhạc cho ngƣời học.
Theo quan niệm truyền thống (dẫn theo giáo trình Âm nhạc và phương pháp dạy học âm nhạc của Hoàng Long - Hoàng Lân (2005), Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội cùng một số cuốn sách khác) thì dạy học âm nhạc bao gồm một số phƣơng pháp nhƣ sau: Phƣơng pháp dùng lời, phƣơng pháp sử dụng phƣơng tiện trực quan, phƣơng pháp trình diễn tác phẩm, phƣơng pháp làm mẫu, phƣơng pháp hƣớng dẫn thực hành [19, Tr. Bên cạnh đó, để tích cực hoá quá trình dạy học âm nhạc, còn có thể kể đến một số phƣơng pháp khác ví dụ: Phƣơng pháp dự án, phƣơng pháp theo góc, học trải nghiệm, trò chơi. Hiện nay, để thực hiện một cách hiệu quả quá trình dạy học âm nhạc các phƣơng pháp truyền thống sẽ có sự kết hợp linh hoạt với các phƣơng pháp dạy học tích cực. Ngƣời dạy sẽ đóng vai trò quyết đinh trong quá trình phối hợp các phƣơng pháp này với nhau để đem lại hiệu quả cao cho ngƣời học.
- Năng lực: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Ví dụ: Về năng lực ca hát, các năng lực này hình thành trên cơ sở của các tƣ chất tự nhiên của cá nhân năng lực này không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do quá trình học tập và rèn luyện. Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau nhƣ năng lực chung và năng lực chuyên 9 môn. Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trƣng trong lĩnh vực nhất định của xã hội nhƣ năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học.
- Kỹ năng là sự thông thạo đƣợc phát triển thông qua quá trình đào tạo và kinh nghiệm, Thông thƣờng, những kỹ năng là những điều cần đƣợc học. Vì thế, chúng ta có thể phát triển những kỹ năng của mình không qua việc trau dồi kiến thức. Làm bài tập môn Lý thuyết âm nhạc cơ bản là khả năng vận dụng lý thuyết để thực hành làm các dạng bài tập của các nội dung mà sinh viên lĩnh hội đƣợc ở phần lý thuyết. Chẳng hạn nhƣ bài tập về: Quãng, điệu thức, hợp âm., thông qua việc rèn kỹ năng làm bài tập SV sẽ nhận thức lý thuyết đầy đủ, chính xác và sâu sắc hơn.
Trong sách Phương pháp dạy học và giáo dục Tiểu học của tác giả Phó Đức Hòa, Nxb ĐHSP Hà Nội (2010) có viết về kỹ năng nhƣ sau: “là tri thức về hành động, là hệ thống thủ thuật đảm bảo cho ngƣời học sẵn sàng và có năng lực hoàn thành công việc một cách có ý thức. là những hành động thực hành mà học sinh có thể thực hiện trên cơ sở những tri thức nhận đƣợc và về sau, những hành động thực hành này lại giúp cho học sinh thu nhận đƣợc tri thức mới”. Vậy kỹ năng Âm nhạc đƣợc hình thành do học tập và rèn luyện đến thành thạo, kĩ thuật. - Phƣơng pháp luyện tập: Luyện tập với tƣ cách là phƣơng pháp dạy học là sự chỉ dẫn của giáo viên, học sinh lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động nhất định trong những hoàn cảnh khác nhau nhằm hình thành và phát triển những kỹ năng, kỹ xảo.
Tất cả các môn học đều cần tổ chức luyện tập nhằm hình thành cho học sinh những hành động trí tuệ hoặc hành động vận động tƣơng ứng. Đó là những kỹ năng, kỹ xảo giải những bài toán, Vật lý, Hoá học,. Việc luyện tập không chỉ hình thành và phát triển những kỹ năng, kỹ xảo từng môn học mà còn những kỹ năng, kỹ xảo chung nhƣ kỹ 10 năng kỹ xảo tƣ duy logic, tổ chức lao động, học tập một cách khoa học. Luyện tập phải nhằm mục đích, yêu cầu nhất định.
+ Luyện tập phải tiến hành theo một trình tự chặt chẽ. Lúc đầu đơn giản, có làm mẫu, có chỉ dẫn, sau tăng dần tính phức tạp của hành động và sự tự lực luyện tập. + Phải nắm lý thuyết rồi mới luyện tập và qua luyện tập để hiểu sâu hơn lý thuyết. + Luyện tập phải đảm bảo mức độ khó khăn vừa sức đối với những hoàn cảnh khác nhau và theo nhiều phƣơng án.
Vai trò phân môn Lý thuyết âm nhạc trong đào tạo ngành Giáo dục Mầm non Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật dùng âm thanh để diễn đạt. Các yếu tố chính của nó là cao độ (giai điệu), nhịp điệu, âm điệu, và những phẩm chất âm thanh của âm sắc và kết cấu bản nhạc. Sự sáng tạo, hiệu quả, ý nghĩa, và thậm chí cả định nghĩa của âm nhạc thay đổi tùy theo bối cảnh văn hóa và xã hội. Có thể nói Lý thuyết âm nhạc là một trong những môn học quan trọng và cơ bản nhất trong dạy và học âm nhạc, môn học này có mối liên quan chặt chẽ với nhiều môn học khác.
Chẳng hạn, với môn Thanh nhạc, ngƣời học phải biết đọc nốt nhạc, biết giải mã các kí hiệu thuộc về kĩ thuật thanh nhạc, biết các kí hiệu cƣờng độ, sắc thái của bản nhạc. Với môn Phân tích tác phẩm âm nhạc thì phải nắm chắc các kiến thức về quãng, hợp âm… Giáo dục mầm non là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện nhiệm vụ nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi. Mục tiêu của ngành Giáo dục mầm non là đào tạo SV sau khi ra trƣờng có thể đảm nhiệm vai trò giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên về nhân cách. 11 Bộ môn giáo dục âm nhạc bao gồm những phân môn: Dạy học hát, Nghe nhạc, Vận động theo nhạc và Trò chơi âm nhạc là một trong những mục tiêu cơ bản của Giáo dục mầm non.
Thực tế cho thấy trẻ em ở lứa tuổi mầm non rất nhạy cảm với âm nhạc. Trẻ thích nghe nhạc và hứng thú tham gia vào các hoạt động âm nhạc. Vì vậy, âm nhạc không chỉ có vai trò quan trọng đối với trẻ em và còn đóng một vai trò rất quan trọng đối với SV ngành Giáo dục mầm non. Để đảm bảo và đáp ứng những nhu cầu giáo dục âm nhạc cho trẻ mầm non Sinh viên cần phải nắm chắc kiến thức âm nhạc trong đó có phân môn Lý thuyết âm nhạc.
Là ngƣời giáo viên trong tƣơng lai, đầu tiên các sinh viên ngành Giáo dục Mầm non cần phải nắm vững nội dung Lý thuyết âm nhạc cơ bản bởi lẽ đặc thù ngành đào tạo của các em trƣớc hết đòi hỏi đọc nhạc chuẩn xác và mẫu mực cho học trò. Trong dạy học hát cho trẻ mầm non sinh viên cần nắm vững những kiến thức về cao độ, trƣờng độ và sắc thái của bài hát, để đảm báo cho trẻ hát chính xác; nắm vững kiến thức về nhịp phách để giúp trẻ biết cách vỗ tay và phân biệt cách vỗ tay theo nhịp, phách, tiết tấu đồng thời SV phải tìm hiểu và nắm vững các vấn đề về cách xác định giọng, dịch giọng để biết và lựa chọn giọng điệu bài hát phù hợp với tầm cữ giọng của trẻ. Hoặc trong dạy nghe nhạc, sinh viên cần trang bị thật kĩ những kĩ năng nghe nhịp, phách, tiết tẩu, âm sắc các loại nhạc cụ, sắc thái biểu cảm của bản nhạc, các thuộc tính của âm thanh nhằm mục đích giúp trẻ nghe và phân biệt đƣợc nhịp, phách, tiết tấu, đồng thời phân biệt đƣợc những loại nhạc cụ khác nhau, nghe âm thanh to - nhỏ, nghe trƣờng độ dài - ngắn, nghe cƣờng độ mạnh - nhẹ.