Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DẤU HIỆU "CHỐNG NGƢỜI THI HÀNH CÔNG VỤ" TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. DẤU HIỆU "CHỐNG NGƢỜI THI HÀNH CÔNG VỤ" 1. Khái niệm "Ngƣời thi hành công vụ" "Người thi hành công vụ" là thuật ngữ thường được sử dụng khi nhắc đến "công vụ". Công vụ là một khái niệm rộng về phạm vi và quan trọng về ý nghĩa cũng như phương thức hoạt động trong các hoạt động nhà nước.
Thuật ngữ "công vụ" trong tiếng Việt thể hiện những hoạt động của Nhà nước cũng như các tổ chức phục vụ nhân dân. Công vụ cũng có thể được định nghĩa là hoạt động phục vụ lợi ích công do Nhà nước đài thọ hoặc tạo điều kiện, hoặc công việc được thực hiện vì Chính phủ hay nhân danh Chính phủ. Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do tác giả Hoàng Phê chủ biên đã định nghĩa một cách ngắn gọn nhưng chính xác: "Công vụ là việc công" [26]. Hoạt động công vụ thường mang tính phục vụ lợi ích công, tính chuyên nghiệp, tính không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội, và tính được đảm bảo bằng ngân sách của Nhà nước.
Từ khái niệm "công vụ" như trên, có thể hiểu "người thi hành công vụ" là người thi hành việc công. Khái niệm "người thi hành công vụ" từ trước đến nay đã tồn tại rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau. Trước đây, khi BLHS năm 1999 chưa ban hành, đa số tồn tại hai khuynh hướng giải thích về yếu tố "người có chức vụ quyền hạn" hay chính là một cách lý giải khác của "người thi hành công vụ". Hướng quan điểm thứ nhất cho rằng tất cả những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, trong các tổ chức xã hội đều là những người có chức 14 z vụ quyền hạn, không phụ thuộc vào chức vụ họ giữ, tính chất công việc, quyền hạn và thẩm quyền được giao.
Hướng quan điểm thứ hai hẹp hơn, cho rằng "chỉ những người là công chức nhà nước và được giao thực hiện những công vụ nhất định mới là người có chức vụ quyền hạn" [6, tr. Nhằm khắc phục tình trạng này, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) ra thông tư hướng dẫn việc áp dụng Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 20/05/1981 đã giải thích người thi hành công vụ là người có chức vụ quyền hạn bao gồm những người được cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội chính thức giao đảm nhiệm một công tác thường xuyên hoặc nhất thời - không kể quy chế (bổ nhiệm, dân cử, hợp đồng, huy động nghĩa vụ, có hưởng lương hay không hưởng lương.) hoặc cấp bậc như nào (phụ trách hay nhân viên nghiệp vụ) có quyền năng nhất định đối với người khác trong khi thực hiện công tác. Khi BLHS năm 1985 được ban hành, tại Điều 219, các nhà làm luật đã quy định về người có chức vụ quyền hạn, người thi hành công vụ như sau: "Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do dân cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ". Đây là khái niệm tương đối hoàn chỉnh, lần đầu tiên được quy định chính thức trong pháp luật hình sự nước ta, đã chỉ ra những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của người có chức vụ quyền hạn, người thi hành công vụ, bởi vậy khái niệm này có ý nghĩa lớn về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Đến Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29.1986 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1985, đã hướng dẫn: Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội thực hiện chức năng, nhiệm 15 z vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ (như: tuần tra, canh gác…) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội [32]. Tại khoản 1 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước lại quy định người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án. Như vậy, các quy định nêu trên cùng với các quy định khác về cán bộ, công chức và công vụ thì để xác định người thi hành công vụ phải xét ở hai khía cạnh. Thứ nhất về chủ thể, người thi hành công vụ phải là cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội hoặc cũng có thể là một công dân bất kỳ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ.
Thứ hai về phạm vi nhiệm vụ thực hiện, chỉ có thể được coi là thi hành công vụ khi công việc mà họ làm phải là thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, các tổ chức nhằm phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội. Tóm lại, thi hành công vụ tức là làm nhiệm vụ công (vì lợi ích chung của nhà nước, của xã hội). Khi BLHS 1999 được ban hành, với việc định nghĩa về người có chức vụ quyền hạn tại Điều 277 BLHS 1999, nhà làm luật đã giữ nguyên về mặt nội dung, quy định: "Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ" [28]. Chúng tôi cho rằng, các quan điểm về khái niệm "người thi hành công vụ" ở trên đã phân tích dựa trên những khía cạnh khác nhau, đều có những hạt 16 z nhân hợp lý nhất định, và có thể khẳng định, "người thi hành công vụ" là các đối tượng trong bộ máy công quyền, trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, trong các tổ chức chính trị - xã hội.
Theo quy định của pháp luật, có thể phân chia người thi hành công vụ theo những nhóm người chính sau đây: Thứ nhất, người thi hành công vụ là những người đại diện quyền lực nhà nước, thường những người này ở trong bộ máy công quyền, ở những cơ quan thuộc nhánh quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp từ trung ương đến địa phương, hưởng lương từ ngân sách của nhà nước. Những người trong bộ máy công quyền nhằm thay mặt nhà nước tổ chức điều hành và điều khiển và duy trì toàn bộ hoạt động của xã hội. Thứ hai, người thi hành công vụ là những người có chức vụ quyền hạn có liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức điều hành, quản lý hành chính trong các cơ quan hoặc tổ chức chính trị xã hội, trong bộ máy của Đảng, Mặt trận Tổ quốc… Thứ ba, đó là nhóm những người giữ chức vụ quyền hạn có liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ tổ chức sản xuất kinh doanh trong các cơ quan và tổ chức kinh tế, doanh nghiệp nhà nước. Thứ tư, người thi hành công vụ còn là nhóm những người dân được giao nhiệm vụ tuần tra, canh gác giữ gìn an toàn trật tự xã hội (thanh niên cờ đỏ, thanh niên xung kích, dân quân tự vệ, dân phòng được huy động làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh…).
Những người này không phải cán bộ trong cơ quan nhà nước nhưng khi được giao nhiệm vụ họ cũng có quyền ra các mệnh lệnh quyết định mang tính chất bắt buộc đối với người khác. Nhóm những người này có chức vụ quyền hạn trong việc thực thi những nhiệm vụ nhất định, vì vậy có thể coi đây là những người thi hành công vụ. Hành vi thi hành công vụ của người thi hành công vụ được coi là hành vi của nhà nước. Từ góc độ cơ cấu tổ chức, cán bộ công chức là một bộ phận 17 z cấu thành của bộ máy nhà nước; là nhân tố quyết định mọi hoạt động của nhà nước.
Hoạt động công vụ của công chức đảm bảo sự vận hành của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, cấp dưới phục tùng mệnh lệnh cấp trên. Khi cán bộ công chức thi hành nhiệm vụ là họ đang đại diện cho Nhà nước để thực hiện các chức trách nhiệm vụ do nhà nước giao phó. Khi đó quan hệ giữa những người đang thi hành công vụ với cá nhân, tổ chức không còn là quan hệ mang tính cá nhân nữa, được coi là hành vi của nhà nước, các quyết định của người thi hành công vụ là quyết định của Nhà nước. Người thi hành công vụ thực hiện một nhiệm vụ được giao phó, có thể là chiến sĩ công an nhân dân đang làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, là thấy thuốc điều trị tại bệnh viện, thầy giáo, cán bộ thuế, cán bộ quản lý thị trường, cán bộ kiểm lâm, hải quan.
Hành vi công vụ của người thi hành công vụ nhằm thiết lập, duy trì, bảo vệ trật tự xã hội hoặc vì lợi ích của cơ quan, tổ chức nơi họ công tác. Vì vậy trong quá trình thực thi công vụ có thể việc làm của họ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, ví dụ người thực hiện công vụ tiến hành mệnh lệnh bắt, khám xét các đối tượng phạm tội theo thủ tục tố tụng hình sự, người thi hành công vụ truy bắt những tên lưu manh, côn đồ, đối tượng đang bị truy nã. Không ít các trường hợp những đối tượng đó đã có hành vi chống đối, không những gây ảnh hưởng đến việc hoàn thành công vụ mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ. Dựa trên những quan điểm đã phân tích, chúng tôi xin đưa ra khái niệm "người thi hành công vụ" như sau: Người thi hành công vụ là những người được giao trách nhiệm để tiến hành một công vụ nhất định nhằm bảo đảm thực hiện chức năng của nhà nước, duy trì trật tự, sự ổn định của xã hội.
Những người này do bầu cử, được bổ nhiệm, do hợp đồng hoặc một hình thức khác có hưởng lương hoặc không hưởng lương và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.