phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo nguồn cán bộ chủ chốt cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng công tác tạo nguồn cán bộ chủ chốt tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tạo nguồn cán bộ chủ chốt tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định. e 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO NGUỒN CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN 1.
VẤN ĐỀ CÁN BỘ, CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN 1. Cán bộ Theo cách hiểu thông thƣờng, cán bộ bao gồm cán bộ, công chức, viên chức nói chung hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, các đơn vị sự nghiệp công lập và thành phần kinh tế nhà nƣớc; họ đƣợc hình thành thông qua con đƣờng đào tạo và bồi dƣỡng trong các nhà trƣờng và thực tiễn. Đây là bộ phận đông đảo và thƣờng ổn định nhất. Theo Từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng (2006), cán bộ đƣợc hiểu là: Ngƣời làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nƣớc (cán bộ nhà nƣớc, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị).
Ngƣời làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với ngƣời thƣờng, không có chức vụ. Tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, quy định cụ thể nhƣ sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Theo quy định này, tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những ngƣời đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà đƣợc tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo e 14 nhiệm kỳ thì đƣợc xác định là cán bộ.
Từ các khái niệm nêu trên, trong luận văn này tác giả hiểu khái niệm cán bộ là những người lãnh đạo, quản lý đang làm việc, hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác được hình thành từ phân công, bổ nhiệm hay đề bạt, bầu cử. Cán bộ chủ chốt cấp huyện “Chủ chốt” là một tính từ chỉ tính chất “quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt” [24, tr. Nói đến chủ chốt là nói đến quan hệ trong một tập hợp nhất định có nhiều phần tử, nhiều đối tƣợng với vị trí, tính chất, vai trò của những phần tử trong tập hợp ấy có khác nhau. Để làm rõ “cán bộ chủ chốt” cần chú ý: Theo Từ điển Tiếng Việt, “Chủ chốt quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt, cán bộ chủ chốt của phong trào” [24, tr.
Trong từng tổ chức, đều có ngƣời đứng đầu hoặc ngƣời lãnh đạo, trong một số tổ chức có tập thể lãnh đạo. Vậy, cán bộ chủ chốt là người đứng đầu quan trọng nhất, là nòng cốt của tổ chức, địa phương ấy, có tác dụng chi phối chính tới toàn bộ hoạt động của tổ chức ấy. Ví dụ: Trong tổ chức đảng, cán bộ chủ chốt của cấp ủy là bí thƣ, phó bí thƣ, ủy viên thƣờng vụ cấp ủy; trong hội đồng nhân dân, cán bộ chủ chốt là chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân; trong ủy ban nhân dân, cán bộ chủ chốt là chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân; trong các đoàn thể chính trị - xã hội thì cán bộ chủ chốt là chủ tịch, phó chủ tịch đoàn thể ấy. Cần chú ý rằng, cán bộ chủ chốt chỉ đƣợc xác định trong một mối quan hệ giữa cá nhân với một tập thể nhất định.
Ví dụ: Bí thƣ xã, thị trấn thuộc huyện là cán bộ chủ chốt của xã, thị trấn đó, là xét trong mối quan hệ với xã, thị trấn nơi giữ chức vụ bí thƣ. Còn trong mối quan hệ giữa bí thƣ xã, thị trấn với ban chấp hành đảng bộ huyện thì không phải là cán bộ chủ chốt. Để làm rõ thêm về “cán bộ chủ chốt”, có thể nói thêm về “công chức e 15 chủ chốt”, đây có thể coi là một thuật ngữ tƣơng đối mới vì từ trƣớc đến nay, trong các hoạt động công quyền, ngƣời ta thƣờng dùng chung thuật ngữ “cán bộ chủ chốt” thƣờng bao gồm luôn đối tƣợng công chức chủ chốt. Tuy nhiên, khi có sự phân biệt rõ rệt giữa cán bộ và công chức thì trong đội ngũ công chức cùng công tác tại một đơn vị, sẽ có ngƣời lãnh đạo, quản lý và ngƣời thừa hành theo mệnh lệnh hành chính.
Vì vậy, công chức chủ chốt ở đây có nghĩa là ngƣời quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt, chịu trách nhiệm hoặc đƣợc giao chịu trách nhiệm về hoạt động lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị đó. Ví dụ, trong văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh, công chức chủ chốt là chánh văn phòng và các phó chánh văn phòng; trong phòng Kinh tế - Hạ tầng trực thuộc ủy ban nhân dân huyện thì công chức chủ chốt là trƣởng và các phó trƣởng phòng. Cũng có ý kiến cho rằng, trƣởng phòng của một ủy ban nhân dân huyện thƣờng là ủy viên ban chấp hành đảng bộ huyện, nhƣ vậy ngƣời đó đƣơng nhiên là “cán bộ” và là “cán bộ chủ chốt” tại cơ quan đó (phòng thuộc ủy ban nhân dân huyện), do vậy không cần xếp vào hàng “công chức chủ chốt”. Điều này là đúng song chƣa đủ, vì tại nhiều quận, huyện, cấp trƣởng một phòng chƣa hẳn đã đƣợc bầu vào ban chấp hành đảng bộ quận, huyện đó.
Nếu cứ đối chiếu theo quy chuẩn thì ngƣời trƣởng phòng đó sẽ không đƣợc xếp hạng “cán bộ chủ chốt”. Văn kiện của Đảng về công tác cán bộ, thƣờng đề cập đến thuật ngữ "cán bộ chủ chốt", "đội ngũ cán bộ chủ chốt" là để nhấn mạnh đến vai trò của ngƣời đứng đầu trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị. Có ý kiến cho rằng: Cán bộ chủ chốt là những ngƣời đứng đầu quan trọng nhất trong một tập thể, có quyền ra quyết định về chủ trƣơng, có trách nhiệm về quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ của tập thể hoặc tổ chức ấy, thậm chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ hoạt động của một e 16 tổ chức [20, tr. Có thể nói, đây là một khái niệm khá cụ thể và toàn diện về cán bộ chủ chốt.
Bên cạnh đó, có ý kiến lại cho rằng, cán bộ chủ chốt cấp huyện là những ngƣời giữ các chức danh: Các chức danh trong hệ thống chính trị cấp huyện nhƣ: Bí thƣ đảng ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân. Là cán bộ chủ chốt của tổ chức đảng, chính quyền, phổ biến là ba chức danh: Bí thƣ cấp ủy huyện, phó bí thƣ cấp ủy - chủ tịch ủy ban nhân dân, chủ tịch hội đồng nhân dân. Là bí thƣ và phó bí thƣ thƣờng trực cấp ủy; chủ tịch ủy ban nhân dân, chủ tịch hội đồng nhân dân. Một số ý kiến khác cho rằng, ngoài các chức danh trên, còn một số chức danh khác nhƣ: Chủ tịch ủy ban mặt trận tổ quốc, chủ tịch hội cựu chiến binh, chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ, bí thƣ đoàn thanh niên, chủ tịch liên đoàn lao động cấp huyện… Tóm lại, cán bộ chủ chốt cấp huyện là những người được bầu cử hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ hoặc chức danh then chốt, quan trọng (lãnh đạo, quản lý), chủ yếu trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang của cấp huyện, đóng vai trò quyết định toàn bộ sự thay đổi, chuyển biến cục diện nơi mình lãnh đạo.
Cán bộ chủ chốt ở cấp huyện gồm: Bí thƣ, phó bí thƣ, chủ tịch và phó chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch và phó chủ tịch ủy ban nhân dân, trƣởng, phó các ban, ngành trong bộ máy của đảng và chính quyền, đoàn thể cấp huyện - những ngƣời giữ trọng trách trong công tác lãnh đạo, quản lý của Đảng và chính quyền nhà nƣớc ở cấp huyện. Tuy nhiên trong phạm vi luận văn, tác giả không nghiên cứu đội ngũ cán bộ chủ chốt trong lực lƣợng vũ trang, vì đây là đội ngũ có tính đặc thù e 17 cao, có những tiêu chuẩn và yêu cầu riêng, việc thực hiện quy trình công tác cán bộ do cơ quan cấp trên trực tiếp thực hiện. Nhƣ vậy, có thể xác định cán bộ chủ chốt cấp huyện trong phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm các chức danh nhƣ sau: Bí thƣ, phó bí thƣ huyện ủy; Chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân; Chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân; Chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện; Trƣởng ban, phó trƣởng ban tổ chức huyện ủy; Chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra huyện ủy; Chánh văn phòng, phó chánh văn phòng huyện ủy; Trƣởng ban, phó trƣởng ban tuyên giáo huyện ủy; Trƣởng ban, phó trƣởng ban dân vận huyện ủy; Giám đốc, phó giám đốc trung tâm chính trị huyện; Chủ tịch, phó chủ tịch hội nông dân Việt Nam huyện; Bí thƣ, phó bí thƣ huyện đoàn; Chủ tịch, phó chủ tịch liên đoàn lao động huyện; Chủ tịch, phó chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam huyện; Chủ tịch, phó chủ tịch hội cựu chiến binh Việt Nam huyện; Trƣởng ban, phó trƣởng ban hội đồng nhân dân huyện; Trƣởng phòng, phó trƣởng phòng chuyên môn ủy ban nhân dân huyện. Vai trò của cán bộ chủ chốt cấp huyện Cán bộ chủ chốt nói chung và cán bộ chủ chốt ở cấp huyện nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức và điều hành mọi công việc ở địa phƣơng, cơ sở; chăm lo đời sống nhân dân; mọi chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đƣợc hiện thực hóa, đi vào đời sống nhân dân hay không phụ thuộc rất lớn vào vai trò của cán bộ chủ chốt e 18 cấp huyện.