phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của bản luận văn được trình bày cụ thể trong 3 chương như sau: ChươngI : Văn học Đàng Trong trước thế kỷ XVII trong cái nhìn tổng quan. ChươngII : Sự xuất hiện của Đào Duy Từ (1572 - 1634), gương mặt văn học tiêu biểu của Đàng Trong thế kỷ XVII. Chương III: Đào Duy Từ và bước hoạch định vùng văn học Đàng Trong. 7 CHƢƠNG I VĂN HỌC ĐÀNG TRONG TRƢỚC THẾ KỶ XVII TRONG CÁI NHÌN TỔNG QUAN Danh xưng Đàng Trong, theo ý kiến của các nhà nghiên cứu, chỉ có thể ra đời sớm nhất vào đầu thế kỷ XVII, khi xu thế ly khai giữa hai dòng họ Trịnh Nguyễn trở nên rõ rệt hơn bằng cuộc trở về Thuận Hoá của Nguyễn Hoàng năm 1600 với những nỗ lực không ngừng để kiến tạo một xã hội mới trên mảnh đất phía Nam sông Gianh.
Thực chất, cái mầm của sự chia cắt đất nước đã manh nha từ giữa thế kỷ XVI, khi vào năm 1558, Nguyễn Hoàng (có thuyết nói theo lời khuyên của Trạng Trình) xin vào trấn thủ đất Thuận Hoá nhằm tránh cái họa sát thân từ phía người anh rể là Trịnh Kiểm. Thuận Hoá lúc đó còn là miền đất dữ, nhiều lam sơn chướng khí, lại có quân Man hung dữ, chưa kể sự đồn trú của quân nhà Mạc rất có thể trở thành cái bẫy nguy hiểm cho tính mạng của Nguyễn Hoàng. Bởi vậy mà Trịnh Kiểm đã không ngần ngại thẳng tay trao đất ấy cho Nguyễn Hoàng “kể như mượn tay họ Mạc” để “khỏi phải mang tiếng không biết dùng người” (2). Hệ quả của việc đi sai nước cờ ấy là gần một thế kỷ sau, họ Trịnh ở Bắc Hà phải đối mặt với (2) Nguyễn Khoa Chiêm - Nam triều công nghiệp diễn chí - Nxb Hội nhà văn -HN 2003 - Tr 26.
8 một chính quyền ngày càng lớn mạnh của các chúa Nguyễn ở phía Nam luôn lăm le đe doạ sẽ “diệt Trịnh” bất cứ lúc nào. Khi mà sự tồn tại của các vua Lê chỉ còn là bù nhìn, vương quyền thực chất là ở trong tay chúa Trịnh thì cái lá cờ “phù Lê diệt Trịnh” mà họ Nguyễn giương ra ở Đàng Trong thực sự trở thành một mối nguy hiểm lớn cho bá quyền của họ Trịnh. Ta có thể nghi ngờ, “phù Lê diệt Trịnh” thực ra là một cách họ Nguyễn biện hộ cho sự cát cứ của mình mà thôi, nhưng mối thâm thù của hai dòng họ Trịnh Nguyễn dường như đã trở thành một điều không cần phải bàn cãi. Để rồi, gần một thế kỷ sau cuộc hành trình của Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá, lịch sử vừa phải chứng kiến những bi thương đau đớn của một cuộc nội chiến nồi da xáo thịt kéo dài suốt gần một thế kỷ, nhưng cùng với đó là cuộc hành trình ngoạn mục của dòng họ Nguyễn về phương Nam mà ở điểm đến cuối cùng của nó chính là bước hoàn thiện một dải đất chiếm đến 3/5 diện tích nước ta hiện nay.Dưới một nhãn quan công bằng, họ Nguyễn đã tạo lập nên những giá trị lịch sử quan trọng.
Bên cạnh giá trị vật chất hữu hình là một dải đất lùi sâu về phía Nam, thênh thang với đồng bằng trù phú và những cửa biển lớn khơi nguồn cho một nền thông thương phát đạt thì sự xuất hiện của Đàng Trong còn là bước mở rộng bản đồ văn hoá nước ta.Theo hành trình của người Việt về phương Nam, chúng ta được chứng kiến sự hội nhập đầy mới mẻ của những sáng tạo về vật chất và tinh thần đã được miền đất mới thổi vào đó cái sinh khí cuả nó. Khi danh xưng Đàng Trong ra đời thì gần như cùng với nó là một bộ phận văn học với những nét tươi mới đã xuất hiện bổ sung thêm cho vẻ phong phú của văn học nước nhà. Văn học Đàng Trong đã đi rất lâu và rất chậm cho đến khi thực sự khẳng định được giá trị của nó, điều đó do những nguyên nhân lịch sử nhất định tác động và trì kéo mà khi nghiên cứu về văn học vùng đất này chúng ta cần đặc biệt chú ý. Thế kỷ XVII, văn học Đàng Trong mới thực sự khởi phát, nhưng chắc hẳn nó đã phải trải qua một quá 9 trình tuần tự nhi tiến để từng bước xây dựng và bồi đắp cho mình, quá trình ấy gắn liền một cách hữu cơ với công cuộc Nam tiến của người Việt suốt từ thế kỷ X.
Để tìm hiểu về văn học Đàng Trong dù chỉ là một khoanh vùng nhỏ trong giai đoạn phát triển đầu tiên của nó thì việc quan tâm đến cả một quá trình phát triển của vùng văn học này là điều cần thiết, cách “tái hiện lại một bức tranh toàn cảnh toàn bộ tiến trình phát triển trước đó của nền văn học, xem xét những thành tựu, những nét khác biệt của các giai đoạn phát triển trước đó, làm rõ những vấn đề đã xuất hiện trong quá khứ trong bối cảnh đa dạng và phức tạp, những vấn đề đã tạo nên quán tính của một truyền thống, quy định sự vận động tiếp tục của văn học” (3) sẽ chứng tỏ những ưu thế của nó trong việc giúp chúng ta hình dung về diện mạo văn học Đàng Trong một cách rõ nét. Từ hành trình lịch sử của Đàng Trong trƣớc thời các chúa Nguyễn. Cách gọi “Đàng Trong” trong thế kỷ XVII là để chỉ hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam. Đất ấy phía Bắc giáp ranh Nghệ An, phía Nam kéo dài tận đến vùng ranh giới Đà Nẵng và Quảng Ngãi ngày nay.Thuận Hoá, Quảng Nam trước đó vốn là đất của người Chăm, có lịch sử khai quốc từ những thế kỷ đầu công nguyên.
Theo sử sách, khi nhà Hán đô hộ nước ta, có đặt ra chín quận thuộc bộ Giao Chỉ, trong đó ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam chính là vùng Bắc Bộ, Bắc và Trung Trung Bộ của nước ta ngày nay. Quận Nhật Nam là cực Nam của bộ Giao Chỉ gồm năm huyện Lư Dung, Tị Cảnh, Châu Ngô, Tây Quyển và Tượng Lâm, trong đó Tượng Lâm là huyện cực Nam của quận Nhật Nam. Người Chăm chính từ huyện này mà khởi phát xây dựng vương triều. Tương truyền, vào cuối đời Đông Hán, Khu Liên - con của viên công tào huyện Tượng Lâm nhân trong xứ có có loạn bèn giết quan (3) ) Trần Ngọc Vương - Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam - Nxb ĐH Quốc Gia Hà Nội 1999 - Tr 19.
10 huyện lệnh đi và tự xưng vương. Nước ấy, theo sách sử Trung Quốc ghi lại là Lâm Ấp(4), lấy đất Quảng Nam ngày nay để đóng đô. Lâm Ấp trong thế kỷ này chỉ là một quốc gia nhỏ bé, nhưng sang đến thế kỷ X sau nhiều công cuộc bành trướng và xâm lấn đã mở rộng ranh giới phía Bắc đến tận địa phận Quảng Bình ngày nay, phía Nam kéo dài mãi đến Bình Định, Phú Yên.Với tên gọi khác là Chiêm Thành(5), Lâm Ấp trong thế kỷ X đã phát triển qua bốn vương triều và xây dựng được một lực lượng quân đội hùng mạnh và thiện chiến. Cũng cùng thế kỷ này, Đại Việt bước vào thời đại tự chủ chấm dứt ách đô hộ suốt một nghìn năm của đế chế phương Bắc.Tuy nhiên, gần một thế kỷ sau đó, mối bang giao giữa Chiêm và Việt mới bắt đầu được thiết lập, khởi sự từ việc vua Lê Đại Hành sai sứ là Từ Mục và Ngô Tử Canh sang giao hiếu với Chiêm Thành.
Kết qủa không mấy tốt đẹp của cuộc giao hiếu này do việc vua Chiêm sai bắt giữ hai sứ giả đã khiến cho mâu thuẫn giữa Chiêm và Việt nảy sinh. Trước đó, vua Chiêm đã từng theo lời của Ngô Nhật Khánh, một người thuộc dòng dõi Ngô Quyền dẫn thuỷ quân sang nước ta gây hấn nhưng không thành, nay thêm việc bắt giữ sứ giả đã khiến vua Lê Đại Hành nổi giận và đến năm 982 thì thân chinh cầm quân đi đánh Chiêm Thành. Sau cuộc kinh binh này, vua Chiêm Thành là Ty My Thuế bị giết , kinh đô Đồng Dương của người Chiêm bị trấn giữ và vị tân vương Chiêm buộc phải lùi sâu về phía Nam trốn chạy. Mười năm sau cuộc Nam chinh đầu tiên kể từ khi nước nhà độc lập, đến năm 992, Lê Đại Hành lại sai Ngô Tử An đem người đi xây dựng con đường bộ đầu tiên thông sang đất Chiêm Thành.
Nhiều nhà sử học đã coi việc làm này của vua Lê Đại Hành là một cách khai thệ chính thức cho ý định Nam tiến của ông cha ta. Rất có thể, ngay từ thời kỳ này, (4) Theo Phan Khoang trong Việt sử xứ Đàng Trong - Nxb Văn học, tái bản 2001 thì Lâm ấp tức là Đô Ấp của huyện Tượng Lâm. (5) Cũng theo Phan Khoang, Chiêm Thành do chữ Champapura của Phạn Ngữ dịch ra gồm chữ Champa, quốc hiệu chính thức của nước Chăm và pura có nghĩa là kinh thành. 11 người Việt đã sớm nhận thấy mối nguy hiểm khi kề cận với một quốc gia hiếu chiến như Chiêm Thành.
Sức mạnh của Chiêm Thành thể hiện ở việc bành trướng lãnh thổ trong suốt gần mười thế kỷ trước đó là một ví dụ. Và quả sau này, kinh đô Thăng Long cũng đã nhiều lần phải chịu sự tấn công dồn dập của Chiêm Thành trong thời đại nhà Trần. Mặt khác, khi ở phía Bắc, nước ta luôn trong thế đối mặt với một đối thủ hùng mạnh truyền kiếp là Trung Quốc thì con đường mở rộng về phía Nam vừa là để dẹp đi một mối nguy hiểm, vừa là mở thêm một hậu phương lớn để cộng thêm sức mạnh chống chọi với phương Bắc là con đường hợp lý. Cũng như sau này, khi lối về phương Bắc đã bị họ Trịnh bít lại thì họ Nguyễn thực hiện một cuộc kinh dinh vĩ đại về phía Nam, âu cũng là cách tồn tại duy nhất.
Như vậy, mục đích Nam tiến manh nha từ tiền Lê rất có thể đã mang tầm nhìn chiến lược. Nhưng theo Li Tana, một nhà Việt Nam học nổi tiếng người Úc đã có rất nhiều nghiên cứu về lịch sử Đàng Trong lại cho rằng, các cuộc Nam chinh thời Lê Đại Hành mang mục đích chủ yếu là “bắt người và lấy của” như một hình thức phổ biến của chiến tranh Đông Nam Á(6). Điều này rõ ràng mang nhiều khác biệt với các cuộc Nam chinh sau này lại mang mục đích là chiếm đất nhiều hơn.