Đặt vấn đề Biến đổi khí hậu được xem là một trong những thách thức lớn đối với sự phát triển và tồn tại của nhân loại trong thế kỷ 21. Theo các đánh giá của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), nguyên nhân chính dẫn đến biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu là do sự phát thải khí quá mức; các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của con người là nguồn phát thải chính. Khí nhà kính (KNK) được định nghĩa là các loại khí trong thành phần của khí quyển như CO2, CH4, NO2., được tạo ra do tự nhiên và các hoạt động của con người. Chúng có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài được phản xạ từ bề mặt Trái đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho Trái đất, gây nên hiệu ứng nhà kính.
Tiếp tục phát thải KNK sẽ tăng cường thêm những thay đổi của khí hậu toàn cầu cũng như những ảnh hưởng tiêu cực đến tự nhiên và con người. Sự phát thải KNK là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây BĐKH, làm ảnh hưởng lớn đến kinh tế, xã hội và đời sống con người. Để đánh giá hiện trạng phát thải KNK cũng như lượng hoá được các hoạt động giảm phát thải KNK, IPCC đã xây dựng phương pháp luận để tính toán các KNK phát thải ra khí quyển do các hoạt động sống và sản xuất của mỗi quốc gia hoặc một cộng đồng, một dự án. Trong năm lĩnh vực phát thải KNK chính theo hướng dẫn của IPCC bao gồm năng lượng, các quá trình công nghiệp, nông nghiệp, chất thải, sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF), mặc dù KNK phát sinh từ chất thải chiếm tỷ lệ nhỏ so với các lĩnh vực còn lại.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế, công nghiệp, đô thị hóa và gia tăng dân số, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển, lượng chất thải phát sinh hàng năm không ngừng tăng lên dẫn đến lượng phát thải KNK từ lĩnh vực này cũng tăng theo. Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng phát triển, tỉ lệ thuận với phát sinh rác thải, nước thải làm gia tăng KNK. Do đó, việc cân bằng giữa lợi ích kinh tế, môi trường và phát triển của thành phố Hà Nội đưa ra các giải pháp đầu tư, đổi mới công nghệ nâng cao năng lực bảo đảm môi trường, hướng tới phát triển bền vững lâu dài. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở những hiện trạng và nhu cầu thực tế, nghiên cứu khoa học “Đánh giá phát thải KNK từ chất thải tại Hà Nội và đề xuất các giải pháp quản lý” được xem là một bước tiếp cận quan trọng trong công tác nghiên cứu khoa học cũng như có thể sớm áp dụng trong thực tế dựa trên kết quả tính toán.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu có thể để xuất giải pháp quản lý hợp lý để giảm phát thải KNK trong tương lai cho thành phố Hà Nội. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung: Tính toán được lượng phát thải KNK từ chất thải của thành phố Hà Nội để có những giải pháp quản lý nhằm giám sát được mức độ phát thải KNK cũng như giảm phát thải KNK cho thành phố Hà Nội. Mục tiêu cụ thể: - Tính toán lượng phát thải, trong lĩnh vực nước thải (sinh hoạt và công nghiệp) và rác thải (bãi chôn lấp rác thải và đốt chất thải).
- Đề xuất được các giải pháp quản lý để giảm lượng phát thải. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu: Lượng các khí nhà kính (CO2, CH4, N2O) phát thải ra từ chất thải rắn và nước thải tại khu vực nội thành và ngoại thành của thành phố Hà Nội 3. Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn thành phố Hà Nội (Hình 1.1) 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Bản đồ địa giới hành chính thành phố Hà Nội 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. Phát thải khí nhà kính trên thế giới và Việt Nam 1. Phát thải khí nhà kính quy mô toàn cầu Nồng độ khí nhà kính CO2 cao là một trong những nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính khiến không khí Trái đất nóng lên, đồng thời làm gia tăng tình trạng biến đổi khí hậu. Năm 2013, đài quan sát Mauna Loa lần đầu tiên ghi nhận nồng độ CO2 trong khí quyển Trái đất vượt ngưỡng 400 ppm.
Trong hơn 100 năm công nghiệp hóa và phát triển, các hoạt động của con người như đốt nhiên liệu hóa thạch (xăng, dầu, than đá, khí đốt tự nhiên), phá rừng và thay đổi sử dụng đất như phát triển đô thị, sản xuất, làm đường…đã thải một lượng lớn KNK vào trong khí quyển, như CO2, CH4, CFC và N2O. Sự gia tăng KNK đẩy mạnh hiệu ứng nhà kính làm cho trái đất nóng hơn - hay còn gọi là ấm lên toàn cầu. Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ủy Ban Liên Chính Phủ về BĐKH (IPCC), phát thải KNK toàn cầu tăng từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng năm 1750) và tăng 70% trong giai đoạn 1970 - 2004. Hàm lượng CO2, CH4 và N2O trong khí quyển do hoạt động của con người từ năm 1750 đến nay, đã vượt xa mức tích tụ tự nhiên trong hàng nghìn năm.
Căn cứ theo số liệu nghiên cứu lõi băng ở Greenland và Nam cực, đến năm 2005, nồng độ khí CO2 và CH4 trong khí quyển cao hơn gấp nhiều lần so với 650 năm trước. Cụ thể về các nguồn phát thải và mức đóng góp vào việc làm nóng trái đất như sau: Gia tăng CO2 chủ yếu do sử dụng nhiên liệu hóa thạch (trong ngành năng lượng, công nghiệp, giao thông.) và có sự đóng góp đáng kể của việc thay đổi sử dụng đất, phá rừng; Gia tăng CH4, N2O do hoạt động nông nghiệp và sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Riêng CO2 là loại KNK chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lượng phát thải do hoạt động của con người, chủ yếu là do sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đóng góp gần một nửa (46%) vào việc gây ấm lên toàn cầu. Lượng khí CO2 phát thải hàng năm toàn cầu tăng 80% từ năm 1970 đến năm 2004 và chiếm 77% tổng lượng KNK phát thải của năm 2004.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Mức độ đóng góp gây nóng lên toàn cầu do phát thải KNK theo các hoạt động chính của con người (Nguồn: IPCC, 2013) Từ năm 1840 đến năm 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước phát triển là các quốc gia thuộc phụ lục I theo phân loại của Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (UNFCCC) chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 trên toàn cầu. Thứ tự các nước phát thải cao năm 2004 như sau: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Ấn độ, Nhật Bản, CHLB Đức, Canada, Anh. Tốc độ phát thải khí CO2 của các nước đang phát triển cũng tăng khá nhanh trong khoảng 15 năm qua. Tuy nhiên, sự chênh lệch lớn về dân số và mức phát thải giữa các nước phát triển giàu có và các nước đang phát triển, đa phần là nghèo khó; Các nước phát triển: chiếm 15% dân số thế giới, tổng lượng phát thải chiếm 45% tổng lượng phát thải toàn cầu.
Các nước châu Phi và cận Sahara: chiếm 11% dân số thế giới, tổng lượng phát thải chiếm 2% tổng lượng phát thải toàn cầu. Các nước kém phát triển: chiếm 1/3 dân số thế giới, tổng lượng phát thải chiếm 7% tổng lượng phát thải toàn cầu. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3: Sơ đồ phân bố phát thải KNK theo quốc gia năm 2006 (Nguồn: IPCC, 2013) Đây là điều mà nhóm các nước đang phát triển đưa ra nhằm yêu cầu các nước phát triển phải tăng cường các cam kết giảm nhẹ phát thải KNK tại các kỳ họp đàm phán trong phạm vi của Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto (KP). Chính vì thế, một nguyên tắc cơ bản, đầu tiên được ghi trong UNFCCC là: “các bên phải bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích của các thế hệ hôm nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công bằng, phù hợp với trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và bên các nước phát triển phải đi đầu trong việc đấu tranh chống BĐKH và những ảnh hưởng có hại của chúng”.
Việt Nam tham gia UNFCCC và KP về kiểm soát KNK là cơ hội lớn để thực hiện quá trình ngăn chặn sự nóng lên của khí hậu toàn cầu. Tuy nhiên, để giảm lượng KNK theo UNFCCC và KP, Việt Nam cần đưa ra các chính sách về quản lý, các giải pháp về khoa học công nghệ phù hợp vừa bảo đảm tăng trưởng kinh tế vừa kiểm soát hiệu quả lượng KNK. Phát thải KNK trong lĩnh vực chất thải tại một số nước 1.1 Hiện trạng kiểm kê KNK của Nhật Bản: Trong lĩnh vực chất thải, phát thải KNK từ xử lý và loại bỏ chất thải được ước tính cho xử lý CTR trên đất, xử lý nước thải, đốt rác thải và các chất thải khác. Ở Nhật Bản, lượng rác thải hàng năm là khoảng 600.000 tấn và nó hầu như không thay đổi kể từ năm tài chính 1990.
Như những kết quả mới nhất (số liệu năm tài chính 2008) từ Báo cáo thường niên về môi trường ở Nhật Bản 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (Bộ Môi trường Nhật Bản) cho thấy, chất thải sinh học, chất thải có nguồn gốc hoá thạch, kim loại và chất thải phi kim loại chiếm 55%, 3% và 42% tổng lượng chất thải. Theo thống kê tái chế chất thải năm tài chính 2008, đối với các hoạt động có nguồn gốc hoá thạch, tái chế, giảm thể tích và xử lý cuối cùng lần lượt chiếm 39%, 48% và 13%. Số tiền xử lý cuối cùng ở Nhật Bản đã giảm dần theo từng năm. Hiện trạng kiểm kê KNK của Malaysia Ở Malaysia, theo kịch bản chất thải tăng từ 28.217 nghìn tấn CO2 (năm 2014) lên 39.287 nghìn tấn CO2 (năm 2030); trong đó, chất thải rắn đóng góp 36%, nước thải đóng góp 56%.
Do đó, để giảm phát thải theo kịch bản, chính phủ Malaysia đặt mục tiêu cắt giảm 40% bao gồm 22% tái chế và 18% chất thải được thu gom xử lý đến năm 2030. Hiện trạng kiểm kê KNK của Singapore: Khí nhà kính phát thải lớn nhất tại Singapore chủ yếu là ngành nhiên liệu hóa thạch để tạo năng lượng sử dụng cho ngành công nghiệp, xây dựng, sinh hoạt, giao thông… đóng góp cho KNK khoảng 33,4%, còn lại 66,6% là chất thải. Theo báo cáo cập nhập 2 năm/lần, năm 2018 cho thấy chất thải gây hiệu ứng KNK là các chất khí CO2 chiếm 95,51%, N2O là 0,89%, CH4 là 0,393%. Để giảm phát thải KNK chính phủ Singapore chuyển đổi đổi công nghệ từ nhiên liệu hóa thạch sang nhiên liệu hỗn hợp.