ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam với tổng diện tích tự nhiên trên 33 triệu ha, trong đó đất đồi núi chiếm 3/4 diện tích, tập trung chủ yếu ở khu vực Trung Du - Miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Do vị trí địa lý, đặc điểm khí hậu, địa hình, cấu tạo địa chất, phân bố thực vật và hoạt động sản xuất của con người nên tài nguyên rừng và đất đai ở vùng này rất đa dạng và phong phú. Đặc điểm chủ yếu của vùng đồi núi là đất đai có độ dốc cao, cùng với đặc điểm của khí hậu Việt Nam mưa lớn, tập trung theo mùa và nạn chặt phá rừng bừa bãi đã làm cho đất đai bị xói mòn rửa trôi nghiêm trọng. Sự thoái hoá đất canh tác đang diễn ra theo chiều hướng ngày càng trầm trọng, trong khi đó dân số không ngừng tăng lên [53], [97].
Vì vậy con đường để đáp ứng nhu cầu lương thực - thực phẩm là phải tăng diện tích canh tác và tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Song việc tăng diện tích canh tác nông nghiệp bằng con đường chặt phá rừng ở nước ta trong thời gian qua đã để lại hậu quả khôn lường. Đất đai bị thoái hoá, môi trường sinh thái không đảm bảo an toàn trong khu vực vì vậy hạn hán, lũ lụt ngày nhiều hơn. Một trong những nguyên nhân làm cho xói mòn đất thêm trầm trọng là sản xuất nông nghiệp độc canh trên đất dốc, vì vậy năng suất cây trồng ngày càng giảm, đất đai và môi trường ngày càng suy thoái trầm trọng kéo theo đời sống của người dân càng gặp khó khăn hơn.
Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập tới [10], [13], [79], [23], [31], [32]. Như vậy ở nước ta nói riêng và các nước đang phát triển nói chung đang phải đối mặt với mâu thuẫn gay gắt là đáp ứng nhu cầu về lương thực - thực phẩm cho người dân đồng thời phải giữ gìn môi trường sinh thái đảm bảo tính bền vững ổn định sản xuất. Phương thức canh tác NLKH là một hướng giải quyết hiệu quả mâu thuẫn trên, thông qua đó đảm bảo an ninh lương thực miền núi đồng thời phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên [21], [37], [72], [112]. Việc phát triển NLKH muốn đạt hiệu quả thì cần khai thác triệt để những kiến thức, kinh nghiệm và phải xuất phát từ nguyện vọng của người dân địa phương n 2 bởi hơn ai hết họ là những người trực tiếp sản xuất và hưởng lợi trên diện tích đất đai của mình.
Vì vậy nghiên cứu NLKH không những cần có sự tham gia của các nhà khoa học mà vai trò tham gia của người dân là một nhân tố không thể thiếu để có thể kết hợp giữa những kiến thức kinh nghiệm truyền thống với kiến thức khoa học tiên tiến [1], [3], [11], [68], [71]. Phương thức sản xuất NLKH phù hợp với canh tác của các vùng đồi núi đặc biệt là các vùng có tiềm năng đất đai và nhân lực. Trong hệ thống NLKH có sự phối kết hợp nhiều thành phần của Nông - Lâm - Ngư nghiệp, trong đó cây trồng thường được bố trí với kết cấu theo không gian và thời gian hợp lý nên tận dụng được tiềm năng đất đai một cách tương đối triệt để. Vì thế sản xuất NLKH không những đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân vùng núi mà còn tạo công ăn việc làm, đồng thời còn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần sử dụng đất theo hướng bền vững, không ngừng ổn định kinh tế xã hội vùng nông thôn miền núi [85], [60], [128].
Võ Nhai là một huyện vùng núi cao của tỉnh Thái Nguyên có địa hình phức tạp chủ yếu là núi đá vôi, núi đất và thung lũng đan xen nhau. Toàn huyện có tổng diện tích đất đai là: 84. Trong đó đất nông nghiệp là: 6.325,0 ha chiếm tỷ lệ 7,48%; đất lâm nghiệp là: 55.469,41 ha chiếm tỷ lệ 65,64% [57]. Kể từ năm 1991 trở lại đây nhờ có sự đầu tư của Chính phủ thông qua các dự án 327, 661.sự phối hợp tư vấn kỹ thuật của các tổ chức, cơ quan nghiên cứu và khuyến nông người dân Võ Nhai đã nhận thức được vai trò của việc canh tác đất dốc.
Đặc biệt là việc xây dựng hệ thống NLKH trên đất dốc đã giúp nhiều hộ trong vùng vươn lên trở thành những hộ làm kinh tế giỏi góp phần cải thiện bộ mặt nông thôn. Tuy nhiên sản xuất theo phương thức NLKH trên địa bàn huyện hiện vẫn còn manh mún, vì vậy mà năng suất cây trồng, vật nuôi nhìn chung còn thấp dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao [96]. Để giúp người dân địa phương có những giải pháp phát triển sản xuất Nông lâm nghiệp nói chung và NLKH nói riêng theo hướng sử dụng tài nguyên lâu bền và hiệu quả chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu quả của một số hệ thống Nông lâm kết hợp tại địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên". MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chung Đánh giá hiệu quả của một số hệ thống NLKH điển hình, góp phần phát triển các hệ thống NLKH bền vững trên đất dốc, nâng cao đời sống người dân và bảo vệ môi trường sinh thái vùng trung du, miền núi nói chung và huyện Võ Nhai - Thái Nguyên nói riêng.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả của một số hệ thống NLKH tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của một số hệ thống NLKH tại địa phương, góp phần sử dụng đất bền vững. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các hệ thống NLKH chính, các phương thức sản xuất NLKH phổ biến đang được người dân địa phương huyện Võ Nhai - Thái Nguyên áp dụng. Phạm vi nghiên cứu Về không gian: - Nghiên cứu các diện tích đang sản xuất Nông lâm kết hợp - Khảo sát, điều tra, phân loại các hệ thống NLKH trên toàn huyện Võ Nhai.
Số liệu điều tra chi tiết lấy ở một số xã đại diện cho 3 khu vực sinh thái của huyện: Khu vực 1 gồm các xã Lâu Thượng, La Hiên; Khu vực 2 gồm các xã Cúc Đường, Vũ Chấn. Khu vực 3 gồm các xã Bình Long, Dân Tiến, Liên Minh, Tràng Xá. Về thời gian: - Các thông tin và số liệu về tổng quan tài liệu nghiên cứu trong lĩnh vực NLKH được tổng hợp từ năm 2005 và bổ xung trong quá trình nghiên cứu. - Các kết quả điều tra, khảo sát phân loại các hệ thống NLKH, tài liệu về đặc điểm dân sinh kinh tế xã hội và đánh giá chung về hiệu quả kinh tế của các hệ thống ở 3 khu vực trong huyện được tổng hợp chủ yếu từ năm 2005 - 2006.
n 4 - Kết quả điều tra chi tiết đánh giá hiệu quả kinh tế, môi trường và tác động về mặt xã hội được tổng hợp từ năm 2006 - 2008. - Phân tích những khó khăn, thuận lợi và đề xuất giải pháp chủ yếu được tổng hợp từ năm 2007- 2008. Về nội dung: - Do điều kiện thời gian và nhân lực có hạn nên đề tài tập trung vào nghiên cứu đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế, hiệu quả bảo vệ đất và bước đầu đánh giá tác động về mặt xã hội của các hệ thống NLKH điển hình. - Chọn ra một số hệ thống NLKH điển hình ở một số xã trong huyện để điều tra, theo dõi, đánh giá và thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật điển hình trong hệ thống NLKH.
Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển NLKH cho huyện Võ Nhai trong thời gian tới. Ý NGHĨA VÀ ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI Ý nghĩa khoa học - Bổ sung phương pháp tiếp cận và nghiên cứu trong nghiên cứu đánh giá các hệ thống NLKH: hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường, xã hội và tính bền vững. - Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung cơ sở cho việc qui hoạch phát triển kinh tế vùng Trung du Bắc bộ nói chung và Huyện Võ Nhai nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn - Các giải pháp mà luận án đề xuất sẽ được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất để góp phần phát triển các hệ thống NLKH theo hướng sử dụng đất bền vững, cho hiệu quả kinh tế cao, ổn định đời sống người dân vùng nông thôn miền núi.
Điểm mới của đề tài - Là công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ, hệ thống về NLKH cho một huyện cụ thể. - Định lượng được giá trị hiệu quả của 6 hệ thống NLKH điển hình cho 3 vùng sinh thái của huyện Võ Nhai mà trước đây trong vùng nghiên cứu chưa có, như hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường và tính bền vững. - Đề xuất được một số giải pháp phát triển các hệ thống NLKH phù hợp với địa bàn nghiên cứu. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HỆ THỐNG CÂY TRỒNG VÀ HỆ THỐNG CANH TÁC 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu hệ thống cây trồng và hệ thống canh tác Hệ thống cây trồng là tổ hợp cây trồng được bố trí theo không gian và thời gian với hệ thống biện pháp kỹ thuật canh tác được áp dụng. Các loài cây trồng khi cùng chung sống với nhau trên một đơn vị diện tích nó sẽ chịu ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và chịu sự tác động của các nhân tố môi trường [36]. Trong việc xác định hệ thống cây trồng cho một vùng, một khu vực sản xuất muốn đảm bảo hiệu quả kinh tế thì ngoài việc chọn giống cần phải giải quyết tốt mối liên hệ giữa hệ thống cây trồng với các điều kiện khí hậu, đất đai, tập quán canh tác và phương hướng sản xuất ở vùng đó.
Vì vậy nghiên cứu hệ thống cây trồng một cách khoa học sẽ có ý nghĩa quan trọng giúp cho các hộ nông dân, các nhà quản lý có cơ sở để định hướng sản xuất nông lâm nghiệp một cách đúng đắn và toàn diện. Khi nghiên cứu về hệ thống cây trồng cho một vùng sinh thái, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề về: Khí hậu, nguồn nước, đất đai, cây trồng, đặc điểm kinh tế - xã hội, điều kiện thị trường [52], [35], [99]. Môi trường khí hậu với hệ thống cây trồng Khí hậu là thành phần quan trọng đối với hệ sinh thái, trong đó nhân tố ánh sáng là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng nhất đối với cây trồng cho quá trình quang hợp tạo thành chất hữu cơ, tạo năng suất cây trồng.