CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm về khu công nghiệp, cụm kinh tế - xã hội Đối với khái niệm về KCN, cụm kinh tế, xã hội ngay từ khi loại hình này ra đời cho đến nay vẫn đang có những tranh cãi có tính học thuật về KCN.
Có quan niệm cho rằng KCN là một vùng đất được phân chia theo hệ thống nhằm cung cấp mặt bằng cho các ngành công nghiệp. Một số các nhà nghiên cứu khác có quan niệm rộng hơn coi KCN như một khu đô thị công nghiệp hay thành phố công nghiệp, ngoài việc cung cấp cơ sở hạ tầng, tiện ích công cộng, KCN còn bao gồm khu thương mại, dịch vụ hành chính, trường học, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí, nhà ở cho người lao động,… nằm ngoài hàng rào KCN [13]. Hiện nay có một số khái niệm về KCN như sau: 1- KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở. Về thực chất mô hình này là khu hành chính kinh tế đặc biệt như KCN Bata (Indonesia) các công viên công cộng ở khu vực lãnh thổ Đài Loan và một số nước Tây Âu [13].
2- KCN là khu vực lãnh thổ hữu hạn ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và DV sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Mô hình này được xây dựng ở một số nước như Malaysia, Indonesia, Thái Lan., khu vực lãnh thổ Đài Loan [13]. 3- Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về KCN, khu chế xuất và khu kinh tế: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho n 5 sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này” [11]. 4- Cụm kinh tế, xã hội là nơi tập trung các loại hình sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nhằm mục tiêu phát triển kinh tế với quy mô nhỏ hơn so với khu công nghiệp (giống như cụm công nghiệp); đồng thời còn bố trí tỷ lệ dân cư phù hợp sinh sống kết hợp hoạt động thương mại, dịch vụ quy mô hộ gia đình trong phạm vi cụm.
Các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đan xen với các hoạt động dịch vụ, thương mại và các hoạt động xã hội trong cùng một khu vực tập trung. Như vậy, xét về bản chất các định nghĩa không có sự khác biệt lớn, tuy nhiên do yêu cầu của từng thời kỳ của phát triển kinh tế cũng như các quan điểm khác nhau trong định hướng vĩ mô thì cũng các định nghĩa này cũng có những điểm khác nhau. Bản chất của xây dựng khu công nghiệp Bản chất của xây dựng KCN là quá trình phát triển các nhà máy xí nghiệp một cách có quy hoạch tổng thể trên phương diện toàn quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định nhằm tương trợ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh công nghiệp cũng như xử lý chất thải. Mặt khác việc xây dựng các KCN còn tạo điều kiện cho các địa phương ứng dụng một cách nhanh nhất các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhờ đó nâng cao được năng suất cũng như hạn chế được vấn đề gây ra ô nhiễm môi trường và nhờ đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất sẽ nâng cao trình độ cũng như tay nghề cho công nhân, cho cán bộ kỹ thuật dẫn tới có được lực lượng lao động tay nghề cao trong sản xuất, đây là điều hết sức cần thiết hiện nay [12].
Nguyên tắc và vai trò của xây dựng khu công nghiệp Trong thời kỳ CNH, HĐH việc xây dựng các khu cụm công nghiệp tập trung là cần thiết và được nhà nước khuyến khích. Từ năm 1994, các KCN được xây dựng để cung ứng cơ sở hạ tầng thuận lợi, tạo điều kiện dễ dàng cho n 6 đầu tư nước ngoài và đặc biệt khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa gia nhập các khu vực công nghiệp. Lợi ích của việc sản xuất tập trung tại các khu cụm công nghiệp so với phát triển công nghiệp tản mạn là đảm bảo tiết kiệm về kết cấu hạ tầng, quản lý hành chính và quản lý môi trường mặt khác cung cấp các dịch vụ thuận lợi hơn. Các KCN được hình thành cũng nhằm tránh sự phân tán các cơ sở sản xuất trong khu dân cư sinh sống, vừa không thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vừa gây ô nhiễm môi trường xung quanh khu dân cư, làm ảnh hưởng lớn đến đời sống của công đồng dân cư trong vùng, nhất là ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.
Do đó, phát triển và phân bố các KCN được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: - Có khả năng tạo ra kết cấu hạ tầng, thuận lợi về giao thông vận tải, cung cấp điện, cấp nước và thải nước. Xử lý môi trường bảo đảm có hiệu quả và phát triển bền vững lâu dài, có đủ mặt bằng để mở rộng và phù hợp với những tiến bộ khoa học kỹ thuật của nền văn minh công nghiệp, hậu công nghiệp của thế giới; - Có khả năng cung cấp nguyên liệu tương đối thuận tiện, hoặc trực tiếp với nguồn nguyên liệu. Đôi khi do cự ly vận tải và yêu cầu bảo quản nguyên liệu, quy mô xí nghiệp công nghiệp phải thích hợp để đảm bảo hiệu quả; - Có nguồn lao động cả số lượng và chất lượng đáp ứng được yêu cầu sản xuất với chi phí tiền lương thích hợp; - Có khả năng giải quyết thị trường tiêu thụ sản phẩm cả trong nước và nước ngoài; - Tiết kiệm tối đa đất sản xuất nông nghiệp đặc biệt là đất trồng trọt trong việc sử dụng đất để xây dựng KCN; - Kết hợp với yêu cầu đảm bảo an ninh quốc phòng trong những điều kiện cụ thể ở từng khu vực và từng giai đoạn [12]; Theo các chuyên gia Nhật, chìa khóa cho sự thành công của các KCN là vị trí, dịch vụ hạ tầng và năng lực quản lý. Với các mục tiêu cụ thể, KCN có những vai trò sau: n 7 - Thu hút và tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư phát triển hạ tầng, góp phần tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn trong quá trình thu hút đầu tư trong và ngoài nước; - Góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo thêm năng lực sản xuất mới, tạo nguồn hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo điều kiện phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tránh manh mún, phân tán và tự phát góp phần tiết kiệm đất đai, sử dụng có hiệu quả ngồn vốn đầu tư, tiết kiệm chi phí sản xuất; - KCN là hình thức hữu hiệu thực hiện chiến lược lâu dài về tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động cũng như sử dụng lao động một cách hiệu qủa, nhất ở các nước đang phát triển so với thực tế về giá nhân công ở các khu vực dư thừa về lao động khác; - Du nhập tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, học tập kinh nghiệm quản lý của các công ty tư bản nước ngoài để tránh bị tụt hậu về kinh tế nhất là trong sản xuất công nghiệp và tăng sức cạnh tranh trên thị trường hàng xuất khẩu; - Là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá và tác động lan toả tích cực trong việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; - Có điều kiện thuận lợi trong kiểm soát, bảo vệ và xử lý sự cố môi trường.
KCN là địa điểm tốt nhất để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ các đô thị, thành phố lớn phục vụ mục đích phát triển công nghiệp bền vững; - KCN còn có vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của quốc gia, KCN là nơi thử nghiệm các chính sách kinh tế mới đặc biệt là chính sách kinh tế đối ngoại và thường thể hiện xu hướng của chính sách đối ngoại của toàn bộ nền kinh tế; - KCN đóng vai trò tiên phong trong sự phát triển kinh tế quốc dân. KCN sẽ là đầu tàu trong phát triển kinh tế kéo theo sự phát triển ở những vùng lân cận và các vùng khác của đất nước [13]; n 8 Qua các vai trò KCN nêu trên cho ta thấy sự khác biệt cả về chất và lượng của hình thức KCN so với cụm công nghiệp và doanh nghiệp công nghiệp phân tán được thể hiện qua các tiêu chí tác động của nó như sau: - Đối với các nhà đầu tư vào KCN: Với cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hộisẵn có, nhà đầu tư vào KCN có thể xây dựng được nhà máy, xí nghiệp của mình một cách nhanh chóng, trong khi đó nếu đầu tư ngoài KCN nhà đầu tư sẽ mất thời gian và tài chính trong quá trình bồi thường - GPMB, đặc biệt là thời gian và các thủ tục trong quá trình kết nối các đầu mối kỹ thuật cho sản xuất như: điện, nước, viễn thông, giao thông; - Đối với các nhà đầu tư nước ngoài: Khi các dự án có công nghệ hiện đại đòi hỏi chất lượng cơ sở hạ tầng ở mức độ cao nên khi đầu tư ngoài KCN khó có thể đáp ứng được yêu cầu. Vì vậy, hầu hết các dự án sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu ở các KCN; - Về cơ chế quản lý: Cơ chế quản lý bằng các Ban quản lý KCN trong các KCN tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến các thủ tục trong sản xuất như: xuất nhập khẩu vật tư, thủ tục thuế, hải quan, tuyển dụng và đào tạo lao động so với các doanh nghiệp đầu tư ngoài KCN; - Đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế vĩ mô việc xây dựng KCN theo quy hoạch phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia, chiến lược phát triển công nghiệp, chiến lược thương mại quốc tế,.