CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Từ năm 1945, ngay sau khi đất nước giành độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến việc sử dụng đất. Với sự ra đời của các Luật Đất đai 1988, Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013 cùng với sự thay đổi liên tục nhằm hoàn thiện các chính sách về đất đai, cũng như những chính sách để phát triển, đổi mới đất nước và phù hợp với tình hình thực tế nên đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trong quan hệ đất đai. Những mâu thuẫn này được thể hiện thông qua các vụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai.
Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai là một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai đã được quy định trong Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013. Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai với ý nghĩa là một nội dung của công tác quản lý nhà nước đối với đất đai, là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tham gia quan hệ đất đai để tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm phục hồi lại các quyền lợi bị xâm phạm, đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm Luật Đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007) 1. Tranh chấp về đất đai 1. Khái niệm tranh chấp về đất đai Theo khoản 24 Điều 3 Luật đất đai 2013 có quy định rằng: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.
Có thể thấy khái niệm tranh chấp đất đai được nêu trong bộ luật là một khái niệm bao hàm cả tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, và tranh chấp về địa giới hành chính. m 5 Đất đang có tranh chấp được hiểu là loại đất mà giữa người sử dụng hợp pháp đất đó với cá nhân khác, với Nhà nước hoặc giữa những người sử dụng chung mảnh đất đó với nhau mà đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất, về ranh giới, về mục đích sử dụng đất hoặc về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất. Đất đang có tranh chấp cũng có thể hiểu là đất tranh chấp giữa hai cá nhân chưa xác định được ai là người sử dụng đất hợp pháp. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp.
UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai. Thời hạn hoà giải là 30 ngày làm việc, kể từ ngày UBND cấp xã nhận được đơn. Sau khi hoà giải tại UBND cấp xã mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau: Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết. Tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì được giải quyết như sau: - Tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau.
Thẩm quyền giải quyết lần đầu sẽ là Chủ tịch UBND cấp huyện. Nếu một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết; quyết định của Chủ m 6 tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng. - Tranh chấp đất đai giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư: Thẩm quyền giải quyết lần đầu sẽ là Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Nếu một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.
Ngoài ra, Luật cũng có quy định nếu đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp lần đầu thì vẫn có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội trong việc lựa chọn phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai. Trình tự giải quyết tranh chấp đất đai Quá trình giải quyết tranh chấp về đất đai được thực hiện qua các bước sau: Bước 1: Nghiên cứu hồ sơ của các bên tranh chấp. Bước 2: Tổ chức điều tra, thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu, bản đồ liên quan.
Bước 3: Tổ chức hội nghị giải quyết tranh chấp đất đai. Bước 4: Ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai. Bước 5: Tổ chức thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp. Khiếu nại về đất đai 1.
Khái niệm khiếu nại Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại quy định khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do pháp luật quy định, đề m 7 nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy, xét về bản chất việc thực hiện quyền khiếu nại thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân mà trong đó bên đi khiếu nại luôn luôn là công dân (hoặc cơ quan, tổ chức trong một số trường hợp) chịu sự tác động trực tiếp của quyết định, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước. Còn bên bị khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước. Khiếu nại gồm có các dấu hiệu sau: - Chủ thể thực hiện quyền khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức.
- Đối tượng khiếu nại là các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc những người có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính nhà nước, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. - Cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là chính cơ quan đã có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai a) Đối với cơ quan quản lý hành chính Trung Ương Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, cơ quan thuộc chính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ công chức do mình trực tiếp quản lý. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ có thẩm quyền: - Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ công chức do mình quản lý trực tiếp.
m 8 - Giải quyết khiếu nại mà thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, cơ quan thuộc chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng vẫn còn khiếu nại. - Giải quyết khiếu nại có nội dung thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của bộ hoặc ngành mà chủ tịch UBNN cấp tỉnh, giáp đốc sở hoặc cấp tương đương thuộc UBND cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại. Tránh thanh tra bộ hoặc cơ quan thuộc chính phủ có trách nhiệm xác minh, kết luận kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của bộ trưởng hoặc thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ. Tổng thanh tra có thẩm quyền: Giải quyết khiếu nại mà thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại, giúp thủ tướng chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, UBND các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
Thủ tướng chính phủ có thẩm quyền sau: - Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các bộ, cơ quan thuộc chính phủ, UBND cấp tỉnh. - Xử lý các khiếu kiện của tổng thanh tra về việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ tướng chính phủ. - Lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại của các bộ, cơ quan thuộc chính phủ và UBND các cấp. b) Đối với cơ quan quản lý hành chính cấp huyện cấp tỉnh: Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật công chức của mình.
Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh giải quyết khiếu nại mà chủ tịch UBND cáp dưới trực tiếp, thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cùng cấp đã giải quyết nhưng còn khiếu nại tiếp. m 9 Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cùng cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ công chức do mình quản lý trực tiếp, giải quyết khiếu kiện do thủ trưởng cơ quan trực thuộc đã giải quyết nhưng vẫn còn khiếu nại. Tránh thanh tra cấp huyện, cấp tỉnh có thẩm quyền: - Xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của chủ tịch UBND cùng cấp. - Giải quyết khiếu nại do chủ tịch UBND cùng cấp ủy quyền theo quy định của chính phủ.