phần mở đầu, 3 chƣơng, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về đại diện giữa vợ chồng Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật hiện hành ở Việt Nam về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh. Chƣơng 3: Nhu cầu, định hƣớng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh. 11 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ CHỒNG TRONG QUAN HỆ KINH DOANH 1. Khái niệm,đặc điểm đại diện và đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh 1.
Khái niệm chung về “Đại diện” Đại diện là một chế định pháp lý theo đó ngƣời đại diện độc lập thực hiện sự thể hiện ý chí làm phát sinh hậu quả pháp lý trực tiếp đối với ngƣời đƣợc đại diện. Xét từ góc độ lý luận thì ngƣời thực hiện các hành vi pháp lý đồng thời là ngƣời tiếp nhận kết quả của các hành vi đó. Có thể thấy đại diện là một chế định pháp luật thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong cách thức tham gia vào giao dịch dân sự (GDDS) của các chủ thể. Theo cách diễn giải tại cuốn Từ điển tiếng Việt thì đại diện là sự “thay mặt (cho cá nhân, tập thể)” [35, tr.
Từ điển Luật học giải thích đại diện là “việc một ngƣời, một cơ quan, tổ chức nhân danh ngƣời, cơ quan, tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyền đại diện” [36, tr225]. Với các cách hiểu này có thể thấy chủ thể tham gia giao dịch gồm có ngƣời đại diện, ngƣời đƣợc đại diện và một bên thứ ba khi ngƣời đại diện thay mặt ngƣời đƣợc đại diện giao dịch vớibên thứ ba. Cả ba bên đều có thể là cá nhân, tổ chức. Nhƣ vậy mối quan hệ giữa ngƣời đại diện và ngƣời đƣợc đại diện là sự thỏa thuận tự nguyện và đúng theo quy định của pháp luật.
Các giao dịch mà ngƣời đại diện thay mặt ngƣời đƣợc đại diện thực hiện với Bên thứ ba sẽ tạo ra quyền và nghĩa vụ đối với ngƣời đƣợc đại diện. Trong xã hội La Mã, ngƣời chủ trong gia đình đƣợc quyền sở hữu mọi thứ do những ngƣời trong gia đình có đƣợc từ các nguồn khác nhau hoặc do nô lệ tạo 12 z nên. Vì vậy mà luật La Mã không có quy định nào cụ thể về đại diện nhƣ các nƣớc theo truyền thống Common Law [7, tr. Càng về sau, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, giao lƣu trong thƣơng mại và vấn đề đại diện đƣợc đề cập đến nhiều hơn.
Cho đến ngày nay, chế định này đã phổ biến rộng rãi trong đời sống giao lƣu dân sự. Nó thừa nhận sự tự do ý chí của các bên, theo đó phải tuân thủ những cam kết mà mình đã đƣa ra. Hầu nhƣ các quốc gia trên thế giới, dù theo truyền thống Common Law hay Civil Law đều thừa nhận và quy định về chế định đại diện. Bộ luật Dân sự Đức quy định: “Biểu lộ ý chí mà một người đưa ra bằng tên của người được đại diện trong phạm vi quyền đại diện của mình có hiệu lực trực tiếp đối với cả lợi ích và việc chống lại người được đại diện.
Không có sự khác biệt giữa biểu lộ ý chí được đưa ra một cách rõ ràng bằng tên của người được đại diện, hoặc nếu hoàn cảnh chỉ ra rằng biểu lộ ý chí phải đưa ra bằng tên của người đại diện” [3]. Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 cũng đã quy định về đại diện nhƣ sau: “Ủy quyền hay ủy nhiệm là hành vi mà theo đó một người trao cho người khác quyền làm một việc gì đó cho người ủy quyền bằng tên của người ủy quyền. Hợp đồng không được tạo lập khi không có sự chấp thuận của người được ủy quyền. Ở Việt Nam, chế định đại diện đƣợc quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật và cụ thể nhất là trong Bộ luật Dân sự 2005.
Từ những quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 và các văn bản khác có thể rút ra đƣợc khái niệm về đại diện là: Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) thay mặt người khác (sau đây được gọi là người được đại diện) thực hiện một số giao dịch dân sự nhất định vì lợi ích hợp pháp trong phạm vi được người đại diện cho phép. 13 z Đặc điểm của quan hệ đại diện Đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự, vì thế ngoài các đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự thì đại diện còn có những đặc điểm riêng: - Đại diện làm phát sinh hai mối quan hệ cùng tồn tại: Đó là quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài [18, tr. Quan hệ bên trong là quan hệ đƣợc hình thành giữa ngƣời đƣợc đại diện và ngƣời đại diện theo quy định của pháp luật (đại diện theo pháp luật) hoặc theo hợp đồng (đại diện theo ủy quyền). Ngƣời đại diện là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhân danh chủ thể trong việc thực hiện các giao dịch pháp luật cho phép hoặc theo nội dung đƣợc ủy quyền.
Ngƣời đƣợc đại diện có thể là cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu ủy quyền cho một cá nhân khác thay mình thực hiện một công việc, một giao dịch dân sự nào đó. Ví dụ: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì mọi giao dịch dân sự của ngƣời chƣa đủ 6 tuổi đều phải do ngƣời đại diện xác lập, thực hiện. Nhƣ vậy quan hệ đại diện ở đây đƣợc xác lập theo quy định của pháp luật chứ không phải dựa trên sự thỏa thuận của các bên. Quan hệ bên ngoài là quan hệ đƣợc xác lập giữa ngƣời đƣợc đại diện và ngƣời thứ ba.
Quan hệ bên trong là tiền đề, là cơ sở cho sự xuất hiện và tồn tại của quan hệ bên ngoài. - Ngƣời đại diện nhân danh ngƣời đƣợc đại diện thực hiện các giao dịch dân sự với bên thứ ba. Ở đây ngƣời đại diện xác lập quan hệ với ngƣời thứ ba nhân danh ngƣời đƣợc đại diện chứ không nhân danh bản thân mình, vì vậy các quyền và nghĩa vụ do ngƣời đại diện thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện với ngƣời thứ ba đều thuộc về ngƣời đƣợc đại diện. Ngƣời đại diện có thể đƣợc hƣởng những lợi 14 z ích nhất định từ ngƣời đƣợc đại diện khi thực hiện hành vi đại diện với ngƣời thứ ba, chứ không đƣợc hƣởng bất kỳ lợi ích nào từ ngƣời thứ ba.
Trong giao dịch do ngƣời đại diện nhân danh ngƣời đƣợc đại diện xác lập thực hiện phát sinh với ngƣời thứ ba chứ không phải ngƣời đƣợc đại diện là ngƣời trực tiếp xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với ngƣời thứ ba. Trƣờng hợp ngƣời đại diện thực hiện việc đại diện vƣợt quá thẩm quyền hoặc không có thẩm quyền thì tùy vào từng trƣờng hợp cụ thể, chủ thể của giao dịch dân sự đó sẽ thay đổi. Ngƣời đại diện sẽ trở thành một bên đại diện và chịu trách nhiệm đối với hậu quả pháp lý của giao dịch đó. - Ngƣời đại diện đƣợc chủ động trong việc xác lập giao dịch dân sự với bên thứ ba trong phạm vi đại diện nhằm đảm bảo quyền lợi cao nhất cho ngƣời đƣợc đại diện.
Phạm vi đại diện mà ngƣời đại diện thực hiện trong quá trình giao dịch với bên thứ ba áp dụng theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận của các bên. - Trong quan hệ đại diện, ngƣời đƣợc đại diện trực tiếp thu nhận các kết quả pháp lý do hoạt động của ngƣời đại diện thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện mang lại. Phạm vi đại diện đƣợc hiểu là hành động thực hiện với tƣ cách một ngƣời khác mà đƣợc sự đồng ý của họ. Các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do ngƣời đại diện xác lập thực hiện với ngƣời thứ ba đều thuộc về ngƣời đƣợc đại diện, điều này có nghĩa là quan hệ pháp luật dân sự phát sinh giữa ngƣời đƣợc đại diện và ngƣời thứ ba, chứ không phải giữa ngƣời trực tiếp tiến hành xác lập giao dịch dân sự - ngƣời đại diện với ngƣời thứ ba.
15 z Trong trƣờng hợp ngƣời đại diện thực hiện giao dịchvƣợt quá phạm vi đại diện thì ngƣời đƣợc đại diện sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với phạm vi vƣợt quá đó trừ trƣờng hợp ngƣời đƣợc đại diện đồng ý. Nguyên tắc của quan hệ đại diện - Dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự do của công dân theo Hiến pháp. Công dân có quyền và lợi ích dù không thực hiện các giao dịch dân sự có liên quan tới mình và đƣợc thực hiện thông qua ngƣời đại diện. Đại diện bảo đảm cho quyền của công dân không bị gián đoạn khi mà họ có nhu cầu giao dịch nhƣng vì những lý do khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà không thể tự mình thực hiện giao dịch đƣợc.
- Dựa trên nguyên tắc tự do giao kết của các chủ thể trong xã hội. Công dân có quyền làm những việc mà pháp luật không cấm. Vì vậy mà trong khuôn khổ quy định của pháp luật, các cá nhân có quyền thay mặt nhau thực hiện những công việc theo thỏa thuận. Ngƣời đại diệnnhân danh ngƣời đƣợc đại diện trong giao dịch, nhƣng cũng có quyền tự do thể hiện ý chí của mình trong phạm vi đại diện đó.
Ý nghĩa của quan hệ đại diện Trong đời sống hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội và các mối giao lƣu dân sự, quan hệ đại diện đƣợc xác lập ngày càng nhiều. Bởi vậy chế định đại diện có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn quan hệ pháp luật dân sự. - Hiện nay có rất nhiều cá nhân rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nhƣng vẫn có nhu cầu về các giao dịch tối thiểu để phục vụ sinh hoạt của mình cũng nhƣ thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản đối với bên thứ ba. Những hạn chế đó cản trở và họ không thể tự mình thực hiện các giao dịch.
Chế định đặt ra vấn đề giám hộ, đại diện giúp đỡ rất lớn cho những ngƣời không đủ khả năng 16 z nhận thức và điều khiển hành vi xác lập các giao dịch phù hợp với nhu cầu cá nhân của họ.