phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm 3 chƣơng sau đây: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về việc đại diện cho con chƣa thành niên trong giao dịch dân sự. Pháp luật Việt Nam về đại diện của cha mẹ cho con chƣa thành niên trong giao dịch dân sự và thực hiễn thực hiện. Đề xuất hoàn thiện cơ chế đại diện bảo đảm quyền lợi cho con chƣa thành niên trong quá trình tham gia giao dịch dân sự.
6 z CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ĐẠI DIỆN CHO CON CHƢA THÀNH NIÊN TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ 1. Khái niệm con chƣa thành niên Trong bất cứ một quan hệ pháp luật nào thì chủ thể luôn là yếu tố quan trọng để hình thành nên một quan hệ pháp luật. Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm: Cá nhân (công dân nƣớc sở tại, ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời không quốc tịch), pháp nhân và trong nhiều trƣờng hợp Nhà nƣớc tham gia với tƣ cách là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự. Dƣới góc độ khoa học pháp lý, cá nhân, pháp nhân đáp ứng đƣợc các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.
Tức là để tham gia vào một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể, cá nhân, tổ chức phải có đủ tƣ cách chủ thể. Tƣ cách chủ thể của cá nhân đƣợc thể hiện dƣới hai yếu tố: Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chính là cơ sở pháp lý và khả năng để cá nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự. Mỗi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự nhƣ nhau đƣợc tính từ lúc cá nhân đó sinh ra cho đến khi chết.
Năng lực hành vi hành vi của dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Nhƣ vậy năng lực hành vi dân sự chính là khả năng để cá nhân tiến hành các hành vi nhằm thực hiện năng lực pháp luật của mình. Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân là ngƣời thành niên có độ tuổi từ đủ mƣời tám tuổi trở lên còn ngƣời chƣa thành niên là ngƣời chƣa đủ 7 z mƣời tám tuổi1. Nhƣ vậy, thông qua giới hạn về độ tuổi mà khoa học luật dân sự chia cá nhân thành ngƣời thành niên và ngƣời chƣa thành niên.
Ngƣời từ đủ mƣời tám tuổi trở lên không thuộc các trƣờng hợp bị mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự, ngƣời có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là ngƣời có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có thể thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, còn những ngƣời ngƣợc lại đó là ngƣời có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ. Một trong những thành phần có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ đó là ngƣời chƣa thành niên. Cũng giống nhƣ các đối tƣợng khác quan hệ pháp luật, ngƣời chƣa thành niên có năng lực pháp luật bình đẳng nhƣ mọi cá nhân. Tuy nhiên, khi tham gia vào các giao dịch dân sự, năng lực hành vi của ngƣời chƣa thành niên lại không đƣợc đánh giá ngang bằng với các đối tƣợng khác, thậm chí là có sự khác nhau trong chính độ tuổi chƣa thành niên.
Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu khoa học dƣới nhiều góc độ mà một số văn bản pháp lý, công ƣớc, điều ƣớc quốc tế về trẻ em đều ghi nhận trẻ em là một ngƣời có độ tuổi dƣới 18, trừ khi luật pháp ở từng quốc gia cụ thể quy định tuổi thành niên sớm hơn. Cụ thể, trong các văn bản quốc tế và các chƣơng trình của liên hiệp quốc (sau đây gọi tắt là LHQ) sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và ngƣời chƣa thành niên. Ví dụ, điều 1 Công ƣớc của LHQ về quyền trẻ em (United Nations Convention on the rights of the child, CRC) năm 1989 quy định rằng trong phạm vi của CRC, trẻ em có nghĩa là mọi ngƣời dƣới 18 tuổi, trừ trƣờng hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn; và tại điều 2 trong Công ƣớc số 182 (Công ƣớc nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất), năm 1999 đã quy định thuật ngữ trẻ em sẽ áp dụng cho tất cả những ngƣời dƣới 1 Khoản 1 Điều 20 và Khoản 2 Điều 21 BLDS 2015 8 z 18 tuổi. Nhƣ vậy, đã gần 30 năm từ ngày Việt Nam chính thức trở thành nƣớc đầu tiên ở châu Á và nƣớc thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ƣớc quốc tế về Quyền trẻ em, đến nay Việt Nam lại là nƣớc còn lại duy nhất trong khối các quốc gia ASEAN, thứ 4 ở châu Á và thứ 11 trên thế giới chƣa nâng độ tuổi pháp lý của trẻ em lên 18 tuổi2.
Bên cạnh đó Quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo vệ ngƣời chƣa thành niên bị tƣớc tự do, năm 1990 cũng xác định ngƣời chƣa thành niên là ngƣời dƣới 18 tuổi3. Tùy thuộc vào sự pháp triển tâm sinh lý và nhận thức của từng khu vực mà pháp luật của các quốc gia có sự quy định khác nhau về độ tuổi của ngƣời chƣa thành niên. Ví dụ nhƣ Thái Lan là dƣới 20 tuổi, Cộng hòa Liên bang Nga là dƣới 18 tuổi, nƣớc Anh là dƣới 16 tuổi. Tại Việt Nam, độ tuổi chƣa thành niên đƣợc quy định thống nhất trong các văn bản từ trƣớc đến nay là dƣới 18 tuổi.
Tuy nhiên việc phân nhóm đối tƣợng dƣới 18 tuổi chỉ mang ý nghĩa tƣơng đối vì trên thực tế chúng ta không thể tìm ra đƣợc một sự đồng nhất hoàn toàn giữa các lớp lứa tuổi khác nhau trong nhóm chƣa thành niên. Do đó, mỗi ngành luật lại quy định về ngƣời chƣa thành niên ở cách nhóm tuổi khác nhau phù hợp với đối tƣợng điều chỉnh riêng: Theo Luật trẻ em 2016 quy định thì trẻ em là ngƣời dƣới 16 tuổi4. Nhƣ vậy, quy định về tuổi trẻ em trong Luật trẻ em đã có độ vênh tới 2 tuổi so với Công ƣớc Quốc tế về Quyền trẻ em. 2 Lê Văn Bính và Trƣơng Thành Trung, Quyền của trẻ em có bố mẹ là người nước ngoài trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.
Sách tham khảo “Quyền của ngƣời nƣớc ngoài”. Chủ biên: PGS. Nguyễn Thị Quế Anh, PGS. Vũ Công Giao, TS Ngô Minh Hƣơng và TS.
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, 2018, tr. 3 Điểm a, Quy tắc 11 – các quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp quốc về bảo vệ ngƣời chƣa thành niên bị tƣớc tự do, năm 1990 4 Điều 1 Luật trẻ em 2016 9 z Theo Luật Thanh niên năm 2005 quy định: Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi5. BLDS 2015 lại quy định: Ngƣời thành niên là ngƣời từ đủ 18 tuổi trở lên. Ngƣời chƣa đủ 18 tuổi là ngƣời chƣa thành niên.
Với quy định này, có thể hiểu rằng, ngƣời chƣa đủ 18 tuổi là ngƣời chƣa trƣởng thành, tức cũng có nghĩa là ngƣời chƣa đủ 18 tuổi vẫn còn là trẻ em. Luật Lao động năm 2012 quy định về ngƣời lao động nhƣ sau: Ngƣời lao động là ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, đƣợc trả lƣơng và chịu sự quản lý, điều hành của ngƣời sử dụng lao động6. Tóm lại, khái niệm ngƣời chƣa thành niên đƣợc xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con ngƣời và đƣợc cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia. Theo đó, ngƣời ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của ngƣời chƣa thành niên.
Con chƣa thành niên là khái niệm đƣợc nhắc đến trong ngành luật hôn nhân và gia đình có nghĩa hẹp hơn khái niệm ngƣời chƣa thành niên, tuy nhiên chƣa có văn bản pháp luật nào định nghĩa khái niệm này. Con chƣa thành niên bản chất chính là ngƣời chƣa thành niên đặt trong mối quan hệ với cha mẹ hoặc với những ngƣời thân trong gia đình nhƣ: cha mẹ nuôi, cha dƣợng, mẹ kế, anh chị em ruột, ông bà nội, ông bà ngoại, …), ngƣời giám hộ (trong trƣờng hợp con chƣa thành niên có ngƣời giám hộ theo quy định của pháp luật). 5 Điều 1 Luật thanh niên 2005 6 Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2012 10 z Nhƣ vậy, về khái niệm: Con chƣa thành niên là ngƣời dƣới 18 tuổi, chƣa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chƣa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhƣ ngƣời đã thành niên và đƣợc đặt trong mối quan hệ với những ngƣời thân trong gia đình. Giao dịch dân sự do ngƣời chƣa thành niên xác lập 1.
Giao dịch dân sự Xã hội phát triển theo nền kinh tế thị trƣờng nhiều thành phần cùng với đó sự phân công lao động rõ rệt dẫn tới tăng mạnh về khối lƣợng hàng hóa. Đời sống xã hội tăng dẫn tới nhu cầu của con ngƣời ngày càng tăng. Do vậy, các chủ thể phải tham gia các giao dịch dân sự khác nhau. Giao dịch dân sự xuất hiện với vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ góp phần giúp con ngƣời thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần mà còn góp phần khuyến khích, đẩy mạnh sản xuất phát triển.
Việc tham gia vào giao dịch dân sự nào là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của mỗi chủ thể. Tuy nhiên, ý chí của chủ thể không đƣợc trái với ý chí của nhà nƣớc. Ý chí đó chỉ trở thành hiện thực nếu đƣợc pháp luật ghi nhận. Trong pháp luật dân sự Việt Nam, giao dịch dân sự là một chế định đóng vai trò quan trọng.
BLDS 2015 đã có những quy định cụ thể về giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự nói riêng. Tại Điều 116 BLDS năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Có rất nhiều căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự: hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phƣơng, thực hiện một công việc không có ủy quyền, gây thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật hay quyết định của một cơ 11 z quan nhà nƣớc có thẩm quyền, … trong đó giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất.