Chương 1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC NHỮNG NĂM 30 – 40 TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ SỰ NGHIỆP NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỦA TRƯƠNG TỬU 1. Bối cảnh nghiên cứu văn học những năm 30 - 40 trước Cách mạng tháng Tám Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta đã khiến cho tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi sâu sắc. Những c 17 thiết chế mà Pháp xây dựng trên đất nước ta là điều kiện khách quan đưa đến ảnh hưởng lớn lao của phê bình văn học Pháp đối với phê bình văn học Việt Nam. Từ việc tiếp xúc chủ yếu và lâu đời với văn hóa, văn học Trung Hoa, sự giao lưu Pháp – Việt là một sự kiện lớn làm thay đổi tư tưởng, cách nhìn của người Việt về mọi mặt.
Đầu thế kỉ XX, báo chí ra đời và phát triển mạnh mẽ từ Bắc vào Nam đã có nhiều tác động đến đời sống xã hội ở nước ta, đóng vai trò quan trọng trong bước đầu hình thành nền văn hóa Việt Nam hiện đại. Ngoài ra chữ quốc ngữ được phổ biến rộng khắp đã thay thế chữ Hán, chữ Nôm vốn đã tồn tại cả ngàn năm ở nước ta. Các loại sách báo và văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam làm cho diện mạo nền văn học trở nên đa dạng và phức tạp. Trong lĩnh vực sáng tác, đội ngũ tham gia gồm nhiều thế hệ gồm cả các nhà cựu học và tân học, những nhà văn bán cựu, bán tân.
Các đề tài và các thể loại văn học có nhiều đổi mới. Chính thực tiễn sáng tác này đặt ra nhu cầu tiếp nhận mới, một số nhà văn vừa sáng tác vừa cổ vũ, thực hiện cách tân nhằm chấn hưng cho nền văn học dân tộc. Vì vậy, sự thay đổi về xã hội và văn chương đã làm cho những hoạt động lý luận và phê bình văn học trở nên phong phú. Từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, hoạt động lý luận, phê bình văn học được chia thành hai giai đoạn.
Từ 1900 đến 1932 là giai đoạn chuyển mình, có nhiều hoạt động cổ vũ, cách tân sôi nổi nhưng là giai đoạn chuẩn bị cho sự trưởng thành, nhảy vọt của lý luận, phê bình giai đoạn sau. Từ 1932 đến 1945 được coi là giai đoạn trưởng thành vượt bậc của lý luận, phê bình, có những cuộc tranh luận sâu sắc, đụng chạm đến những vấn đề cốt yếu của văn học, có những công trình nghiên cứu đặc sắc, xuất hiện những xu hướng tìm tòi lý luận và phương pháp đa dạng. Giai đoạn từ 1932 đến 1945, phê bình văn học đã trở thành một thể loại riêng đồng thời xuất hiện đội ngũ các nhà phê bình chuyên nghiệp. Ở giai đoạn này, bên cạnh việc sử dụng lối phê bình truyền thống, một số phương pháp phê c 18 bình mới được vận dụng từ phương Tây đã xuất hiện ở Việt Nam.
Một trong số đó là lối phê bình tiểu sử học nghĩa là giải thích các đặc tính, phong cách văn học dựa trên việc khảo sát tiểu sử nhà văn. Người khai sinh ra phương pháp phê bình này là nhà thơ, nhà phê bình văn học Sainte Beuve (1804-1869). Các công trình của ông nổi tiếng khắp châu Âu như: Tổng quan lịch sử và phê bình thơ ca, sân khấu Pháp thế kỉ XVI, Những chân dung phê bình văn học…Ông quan niệm rằng: “Văn học gắn chặt với bản tính nhà văn và toàn bộ lịch sử của một nhà văn gắn chặt với các tác phẩm của anh ta. Tìm hiểu tác phẩm văn học thì cần phải tìm hiểu con người nhà văn như dòng dõi, thân hữu, môi trường sống, quan điểm tư tưởng và nghệ thuật…” [15; tr.
Ở Việt Nam, nhà phê bình tiêu biểu cho lối tiếp cận tiểu sử học là Đào Duy Anh với Khảo luận về Kim Vân Kiều. Trong lời tựa cho công trình của mình, ông cho rằng muốn hiểu “chân giá trị Truyện Kiều” thì phải có những nhà chuyên môn nghiên cứu, thậm chí phải có hẳn “một học phái chuyên nghiên cứu Truyện Kiều” [15, tr. Điều này đã khẳng định rằng phê bình phải trở thành một khoa học, nếu muốn lý giải được những tác phẩm bất hủ của văn chương. Đào Duy Anh đã “trình bày về thân thế Nguyễn Du- người sáng tạo ra tác phẩm, về thời điểm Truyện Kiều xuất hiện, quan hệ giữa Truyện Kiều với tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, bút pháp và tư tưởng của Nguyễn Du, địa vị của Truyện Kiều trong lịch sử văn học dân tộc…Thứ tự các chương mục như sau: Tiểu sử Nguyễn Du, lai lịch Truyện Kiều, từ Kim Vân Kiều truyện đến Đoạn trường tân thanh; Văn chương tư tưởng Nguyễn Du, Địa vị sách Đoạn trường tân thanh trong tư tưởng và văn chương Việt Nam” [15, tr.
Có thể thấy với nhà nghiên cứu, văn chương không chỉ là lịch sử cá nhân nhà văn mà còn là lịch sử ngoài nhà văn ấy như lịch sử của tác phẩm, lịch sử văn hóa…ảnh hưởng đến nhà văn. Nhiệm vụ của người phê bình là khảo xét mọi yếu tố cá nhân, xã hội liên quan trực tiếp tới nhà văn và tác phẩm của ông ta. c 19 Ngoài lối phê bình tiểu sử học, từ những năm 30 của thế kỉ XX, phê bình phân tâm học đã xuất hiện ở Việt Nam. Phân tâm học là một trường phái triết học Tây phương mà người khai sinh ra nó là một bác sĩ người Áo gốc Do Thái Sigmund Freud (1856 – 1939).
Sau này học thuyết được phát triển phong phú hơn bởi nhiều nhà khoa học như Jung, Fomm, Bachelard… “Phân tâm học được coi là khoa học nhân văn góp phần làm phong phú thêm văn hóa nhân loại thế kỉ XX. Một trong những vấn đề cơ bản của học thuyết Freud là ông đã chứng minh quá trình sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ không chỉ ở ý thức mà có ngay trong vô thức. Vô thức đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo của người nghệ sĩ, chính vì vậy nó là điều được các nhà phê bình văn học quan tâm, chú ý” [20, tr. Năm 1936, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hanh viết Hồ Xuân Hương: tác phẩm, thân thế và văn tài theo phương pháp nghiên cứu phân tâm học.
Dựa vào tiểu sử và những trạng thái tâm lý của nữ sĩ, nhà phê bình lý giải thơ bà: “Theo Nguyễn Văn Hanh, Hồ Xuân Hương là một người đàn bà khỏe mạnh, nhưng xấu gái, thậm chí da còn đen nữa, “da nó xù xì, múi nó dày” (Quả mít), nên cũng khó được người khác đáp ứng đủ nhu cầu tình dục. Đã thế, cuộc đời bà lại không may về chuyện chồng con. Hai lần xuất giá, một lần thì lấy phải Tổng Cóc, một anh trọc phú nhà quê chắc cũng chẳng đẹp đẽ gì (cũng chỉ là phỏng đoán theo cái tên gọi xấu xí đó), lần khác tuy lấy được người ưng ý là ông phủ Vĩnh Tường, thì ngoài việc ông ta là thư sinh trói gà không chặt, còn phải chịu cảnh làm lẽ, “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” và “năm thì mười họa hay chăng chớ/một tháng đôi lần có cũng không”. Sau này, tuy gặp gỡ nhiều văn nhân tài tử thì hoặc họ đã yên bề gia thất rồi, hoặc như Chiêu Hổ, khi hàn vi thì đầy những “nhắn nhe”, nhưng khi đã công thành danh toại, “mần cha thằng xích tử” rồi thì sẵn sàng “đù mẹ cái hồng nhan”.
Trong tình cảnh ấy, dù cho Hồ Xuân Hương có cố chịu đấm để được ăn xôi, dẫu là xôi hẩm, thì không phải lúc nào cũng có mà ăn. Sự không thỏa mãn về tình dục này bị dồn nén thành những ẩn ức, có khi sinh bệnh. Nên, để giải tỏa những ẩn ức đó, bà đã c 20 sáng tác” [56]. Theo Nguyễn Văn Hanh: “Dục tình ngày càng tăng, càng nén lại càng bồng bột.
Ngày qua tháng qua sức đã nén, dồn ép tình dục càng tăng và sự cần kia càng khẩn cấp. Kết quả: Xuân Hương khủng hoảng tình dục, khủng hoảng nặng sẽ kết bệnh thần kinh” [56]. Như vậy, theo nhà nghiên cứu: Hồ Xuân Hương sáng tác là để giải tỏa những ẩn ức từ sự dồn nén khi không được thỏa mãn về tình dục. Trong giai đoạn này, ngoài phê bình theo lối tiểu sử học, phân tâm học còn có lối phê bình ấn tượng hay còn gọi là tiếp cận văn học theo lối ấn tượng chủ quan mà tác giả Hoài Thanh là người giữ vị trí số một.
Hoài Thanh cùng một số nhà phê bình theo phương pháp này như Lê Tràng Kiều, Thạch Lam, Trương Chính, Thiếu Sơn rất ít khi dẫn các lý thuyết và các nhà phê bình nước ngoài mà hay dẫn ý kiến của Kim Thánh Thán – nhà phê bình văn học Trung Quốc thời trung đại, thuộc truyền thống phương Đông. Với Hoài Thanh “phê bình là một lối nghệ thuật gián tiếp” [15, tr. Trong bài báo có tính chất tuyên ngôn, ông viết: “Phê bình và nghệ thuật cùng một mục đích, một tính cách: tìm cái đẹp. Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật, tìm cái đẹp trong nghệ thuật là phê bình” [15, tr.
Cuốn Thi nhân Việt Nam là công trình nổi tiếng của Hoài Thanh đã đem lại những xúc cảm trong lòng người đọc khi ông đưa ra những lời bình ấn tượng về các nhà thơ mới: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên…và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu” [49, tr. Nguyễn Bách Khoa - Trương Tửu là nhà phê bình tiêu biểu cho phương pháp phê bình khoa học ở giai đoạn này. Tác giả cho rằng khi phê bình với phương pháp này cần “gác bỏ hết những tình cảm riêng tư, những thành kiến và dư luận đã định giá thi nhân kia, tác phẩm kia để làm hết nghĩa vụ của một c 21 nhà phê bình vẫn tôn thờ khoa học” [15, tr. Theo nhà nghiên cứu, khoa học là khách quan trong việc phân tích, đánh giá sự kiện và phải vận dụng các lý thuyết của các bộ môn khoa học như tâm lý học, xã hội học… vào quá trình phê bình.
Với quan điểm trên, có thể thấy phương pháp phê bình của Nguyễn Bách Khoa đối lập với phương pháp tiếp cận văn học theo lối ấn tượng, chủ quan vốn chiếm ưu thế trong phê bình ở nước ta lúc bấy giờ. Nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về văn học dân gian, văn học trung đại và văn học hiện đại chủ yếu với phương pháp phê bình xã hội học.