Chương 1 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN Ở TỈNH QUẢNG NINH 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam. Tỉnh Quảng Ninh cách thủ đô Hà Nội 153 km về phía Đông Bắc.
Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu Vịnh Bắc bộ, phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp. Toạ độ địa lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc. Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 102 km. Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 195 km.
Phía đông bắc của tỉnh giáp với Trung Quốc, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng, đồng thời phía tây bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và Hải Dương. Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, ngoài khơi là mũi Sa Vĩ. Điểm cực tây là sông Vàng Chua, xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, thị xã Đông Triều. Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn.
Điểm cực bắc thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu. Quảng Ninh là một trong 25 tỉnh, thành phố có biên giới, tuy nhiên lại là tỉnh duy nhất có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, với đường biên giới trên bộ dài 118,825 km và đường phân định Vịnh Bắc Bộ trên biển dài trên 191 km. Mặt khác, Quảng Ninh là một trong 28 tỉnh, thành giáp biển, với đường bờ biển dài 250 km, trong đó có 40.000 hecta bãi triều và trên 20.000 hecta eo vịnh, có 2/12 huyện đảo của cả nước. Vị trí địa lý trên giúp Quảng Ninh trở thành trung tâm trung chuyển hàng hoá xuất khẩu của Miền Bắc sang thị trường quốc tế đặc biệt với Trung Quốc, trong đó có mặt hàng thuỷ sản.
Quảng Ninh có cơ hội hợp tác sâu rộng kinh tế, khoa học kĩ thuật, trong đó có kinh tế thuỷ sản với Trung Quốc (nước có sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn lượng thuỷ sản lớn nhất thế giới). Đồng thời, Quảng Ninh trở thành địa bàn có vị trí chiến lược về phát triển kinh tế kết hợp với an ninh quốc phòng, đặc biệt đối với nghề khai thác thủy sản xa bờ. Vị trí địa lý trên cũng tạo thuận lợi cho Quảng Ninh có một thị trường tiêu thụ thủy sản rộng mở, đáp ứng nhu cầu thị trường trong việc chế biến xuất khẩu thủy sản. Điều kiện tự nhiên Về địa hình: Quảng Ninh là tỉnh miền núi, trung du nằm ở vùng duyên hải, với hơn 80% đất đai là đồi núi.
Địa hình của tỉnh đa dạng có thể chia thành 3 vùng gồm có vùng núi; trung du và đồng bằng ven biển; vùng biển và hải đảo. Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái. Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là đông bắc - tây nam. Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía bắc huyện Tiên Yên.
Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thành phố Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc thị xã Đông Triều. Vùng này là những dãy núi nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ. Cánh cung Đông Triều chạy theo hướng tây - đông ở phía nam và hướng đông bắc - tây nam ở phía bắc, được coi là xương sống của lãnh thổ Quảng Ninh, có vai trò quan trọng trong việc hình thành các yếu tố tự nhiên ở hai sườn bắc - nam. Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo ra những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển.
Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Quảng Yên, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái. ở các cửa sông, các vùng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp. Đó là vùng nam Uông Bí, nam Quảng Yên (đảo Hà Nam), đông Quảng Yên, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái. Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh.
Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Quảng Ninh có vùng biển rộng lớn trong phần vịnh Bắc Bộ, trong đó có thể chia làm hai bậc độ sâu. Bậc thứ nhất có độ sâu dưới 10 m. Đó là các vùng vịnh như vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long,… Bậc thứ hai là vùng biển nông, độ sâu từ trên 10 m đến trên 20 m, trong đó có huyện đảo Cô Tô.
Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m. Ở đây có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rặng san hô vô cùng đa dạng. Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu, kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ thuận lợi. Cùng với biển là hơn 2000 hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp và diện tích các đảo chiếm 11,5% diện tích đất tự nhiên.
Có một số đảo lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen. Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng.
Về khí hậu: Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều; một mùa đông lạnh, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất. Do ảnh hưởng của vị trí địa lí và địa hình nên Quảng Ninh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc và ảnh hưởng yếu của gió mùa Tây Nam so với các tỉnh phía bắc. Vì Quảng Ninh nằm trong vành đai nhiệt đới nên hàng năm có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh, tiềm năng về bức xạ và nhiệt độ rất phong phú. Các quần đảo ở Cô Tô, Vân Đồn.
có đặc trưng của khí hậu đại dương. Do ảnh hưởng bởi hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hoá thành hai mùa gồm có mùa hạ thì nóng ẩm với mùa mưa, còn mùa đông thì lạnh với mùa khô. Độ ẩm trung bình 82 - 85%. Mùa lạnh thường bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, nhiệt độ không khí trung bình ổn định dưới 20°C.
Trong khi đó mùa nóng lại bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10, nhiệt độ trung bình ổn định trên 25°C. Ngoài ra, do tác động của biển, nên khí hậu của Quảng Ninh nhìn chung mát mẻ, ấm áp, thuận lợi đối với phát triển nông - lâm - ngư nghiệp, trong đó có công nghiệp CBTS. Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10. Giữa hai mùa lạnh và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa là hai thời kì chuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kì khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10).
là tỉnh có lượng mưa nhiều, tập trung chủ yếu vào mùa hạ (chiếm tới 85% lượng mưa cả năm), lượng mưa trung bình hàng năm 1. Lượng mưa ở các vùng cũng khác nhau. Nơi mưa nhiều nhất là sườn nam và đông nam cánh cung Đông Triều và vùng đồng bằng duyên hải của Móng Cái, Tiên Yên, Hải Hà, lượng mưa trung bình năm lên tới 2. Vùng ít mưa nhất là sườn bắc của cánh cung Đông Triều, Ba Chẽ, lượng mưa trung bình năm chỉ đạt 1.
Các vùng hải đảo có lượng mưa 1. Hàng năm thường có lũ lớn và đổ vào vịnh một lượng nước đáng kể, mang theo phù sa chứa nhiều chất dinh dưỡng và muối khoáng. Trong vùng biển còn có nhiều dòng chảy, nhất là các dòng chảy ven bờ, tạo thành một kho nước pha trộn, làm phong phú môi trường sinh học tự nhiên, thích hợp cho sự phát triển phù du sinh vật. Vùng nước màu mỡ, giàu thức ăn tạo điều kiện thuận lợi cho sự tập trung nguồn lợi cá tầng trên, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn tầng giữa và tầng gần đáy, nơi tập trưng cao đàn cá, tôm bố mẹ trong mùa sinh sản và cũng là nơi sinh trưởng tốt cho đàn cá con.
Đây là nguồn nguyên liệu trực tiếp cho công nghiệp CBTS của tỉnh. Quảng Ninh chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ gió mùa. Gió mùa hạ thổi từ tháng 5 đến tháng 10, hướng đông nam, gây mưa lớn cho nhiều khu vực. Mùa hạ thường có áp thấp nhiệt đới và bão (tháng 7, 8, 9), những cơn bão từ Tây Thái Bình Dương có xu hướng đổ bộ vào đất liền, trong một năm thường có 5 - 6 cơn bão gây ảnh hưởng trực tiếp đến Quảng Ninh.
Gió mùa mùa đông thổi từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, hướng đông bắc, gây thời tiết lạnh khô. Yếu tố nhiệt độ và gió mùa hình thành nên những loài sinh vật phong phú, mỗi mùa có những giống sinh vật đặc trưng tạo nên nguồn thủy sản phong phú. Việc khai thác và chế biến theo mùa cũng là nét đặc trưng của vùng biển Quảng Ninh. Tài nguyên đất: Quảng Ninh có quỹ đất dồi dào (611.
Trong đó: 10% là đất nông nghiệp, đất có rừng chiếm 38%, 43,8% là diện tích chưa sử dụng tập trung ở vùng miền núi và ven biển, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở. Quảng Ninh có nhiều loại đất.