Chương 1 CHÍNH THỂ - MỘT TRONG NHỮNG ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA HIẾN PHÁP 1. Những lý luận cơ bản về chính thể nhà nước trên thế giới Nhà nƣớc, tức Chính phủ rất cần cho cuộc sống con ngƣời… Nhƣng tạo ra một Chính phủ nhƣ thế nào và có hình thức ra sao luôn là câu hỏi lớn của nhân loại, tạo ra một Chính phủ không đòi hỏi nhiều sự cẩn trọng, phân chia quyền lực, dạy cách tuân phục và công việc thế là xong. Cho quyền tự do còn dễ dàng hơn nữa. Không cần hƣớng dẫn, nó chỉ đòi hỏi xoá bỏ sự cai trị.
Nhƣng để thành lập một Chính phủ dân chủ tự do tức là dung hoà tất cả các yếu tố đối nghịch giữa tự do và kiềm toả trong một thể thống nhất, thì phải đòi hỏi đến một sự suy nghĩ cẩn thận, nó đòi hỏi một sự suy nghĩ thấu đáo, một trí tuệ minh mẫn, mạnh mẽ và tổng hợp… Nếu quá vì quyền tự do sẽ dẫn đến tình trạng vô Chính phủ, nhƣng ngƣợc lại nếu quá vì kìm hãm sẽ dẫn đến sự độc tài [5, tr. Nhà nƣớc là một hiện tƣợng xã hội, nó cũng có nội dung và hình thức thể hiện của mình. Trong triết học, hình thức và nội dung là một trong sáu cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật. Nó phản ánh mối quan hệ qua lại giữa hai mặt của hiện tƣợng tự nhiên và xã hội.
Nếu nội dung là toàn bộ những yếu tố và sự tƣơng tác giữa các yếu tố đó với nhau và với các sự vật và hiện tƣợng khác, cấu thành nên sự vật và hiện tƣợng đƣợc nghiên cứu thì hình thức là phƣơng thức tồn tại và biểu hiện của nội dung đó và biểu hiện khác nhau của nó, là tổ chức bên trong của nó. Không có hình thức nào lại không chứa đựng nội dung, cũng không có nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức nhất định. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung là mặt 6 z chủ đạo, năng động quyết định khách thể, còn hình thức là mặt tƣơng đối ổn định của khách thể, thay đổi tuỳ theo sự thay đổi của nội dung. Nhƣng hình thức cũng có sự tác động trở lại nội dung.
“Khi hình thức thích ứng với nội dung thì thúc đẩy sự phát triển của nội dung. Ngược lại khi hình thức không thích ứng với nội dung thì nó trở thành kìm hãm sự phát triển của nội dung” [3, tr. Mỗi sự vật hiện tƣợng đều có hình thức tồn tại của nó. Nội dung và hình thức liên quan mật thiết với nhau.
Không có nội dung thì không có hình thức và ngƣợc lại không có hình thức thì không có nội dung. Nhà nƣớc là một hiện tƣợng xã hội nó cũng giống nhƣ các hiện tƣợng xã hội khác đều có hình thức thể hiện. Hình thức Nhà nƣớc là thuật ngữ chuyên ngành luật Hiến pháp và của một số ngành khoa học xã hội khác nhằm khái quát hoá mô hình Nhà nƣớc thông qua những đặc điểm thể hiện nội dung của các yếu tố cấu thành là các bộ phận tạo ra bộ máy nhà nƣớc và mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng với nhau. Hình thức nhà nƣớc đƣợc phân tích dƣới nhiều lăng kính khác nhau, cho chúng ta các cách hiểu khác nhau về nhà nƣớc.
Hình thức chính thể là một dạng của hình thức nhà nƣớc, bên cạnh hình thức cơ cấu lãnh thổ. Khi xác định hình thức chính thể của một quốc gia trƣớc tiên ngƣời ta xác định cách thức thành lập nguyên thủ quốc gia, tiếp đến là cách thức thành lập, vị trí, vai trò của các cơ quan Bộ máy nhà nƣớc mà chủ yếu là cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp. Nếu nguyên thủ quốc gia hình thành bằng con đƣờng thế tập truyền ngôi thì đó là hình thức quân chủ, nếu nguyên thủ quốc gia hình thành bằng con đƣờng bầu cử thì đó là chế độ cộng hòa. Trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ đề cập đến một dạng của hình thức Nhà nƣớc đó là hình thức chính thể nhà nƣớc.
Nhƣ đã nói ở trên, hình thức chính thể hiện nay chia làm hai dạng: Chính thể cộng hòa và chính thể quân chủ. Trong đó mô hình chính thể cộng hòa chia ra làm ba loại: chính thể cộng hòa đại nghị, chính thể cộng hòa tổng 7 z thống, chính thể cộng hòa lƣỡng tính. Mô hình chính thể quân chủ có hai loại: quân chủ tuyệt đối và quân chủ lập hiến. Chính thể cộng hòa Đây là mô hình phổ biến ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa.
Mô hình này đƣợc coi là mô hình tiến bộ hơn mô hình quân chủ, bởi lẽ cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất ở chính thể này do dân bầu lên, do vậy nhân dân có những quyền hạn nhất định trong tổ chức cũng nhƣ hoạt động của Bộ máy nhà nƣớc, điều này không giống nhƣ chế định Nguyên thủ quốc gia và các cơ quan nhà nƣớc ở chính thể quân chủ. Tuy nhiên sự tiến bộ này cũng phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội nhất định cũng nhƣ tƣơng quan trong sự so sánh các giai cấp. Trong lịch sử cũng đã tồn tại những mô hình chính thể mang tên “cộng hòa” nhƣ cộng hòa nô lệ, cộng hòa phong kiến nhƣng thực chất đó là chuyên chế nô lệ, chuyên chế phong kiến, ngƣời dân không những không đƣợc hƣởng lợi ích gì mà còn bị áp bức, bóc lột. Thuật ngữ “cộng hoà” có nguồn gốc từ thành ngữ Hy Lạp “Respublica est res populi”, có nghĩa là “Nhà nước là công việc của nhân dân”.
Mô hình tổ chức Nhà nƣớc này xuất hiện từ thời cổ đại La Mã - Hy Lạp. Nhƣng sang đến chế độ chính trị phong kiến nó bị loại dần, mãi đến chế độ chính trị tƣ bản mới trở thành mô hình phổ biến. Chế độ chính trị cộng hoà còn đƣợc gọi là chế độ chính trị dân chủ. Dân chủ cũng là thuật ngữ có nguồn gốc từ cổ Hy Lạp, “Democrat” có nghĩa là “Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân” [5, tr.
Mô hình chính thể cộng hòa thƣờng chia thành hai loại chính: chính thể cộng hòa đại nghị - là chính thể, ở đó cơ quan lập pháp và hành pháp có sự phụ thuộc vào nhau, phối kết hợp với nhau trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của cơ quan mình; còn không có sự kết hợp hay phụ thuộc vào nhau là chính thể cộng hòa tổng thống. Ngoài ra còn có hình thức chính thể cộng 8 z hòa lƣỡng tính. Đây là hình thức tổ chức nhà nƣớc vừa có điểm giống chính thể cộng hòa đại nghị lại vừa có điểm giống chính thể cộng hòa tổng thống. Ngoài ra việc áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực một cách mềm dẻo giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp ở chính thể này góp phần hạn chế sự lạm quyền một cách hiệu quả.
Chính thể cộng hòa đại nghị Đây là mô hình tổ chức nhà nƣớc mà về nguyên tắc Nghị viện đóng vai trò là cơ quan thực hiện quyền lực nhà nƣớc cao hơn các cơ quan khác. Đây là cơ quan do nhân dân trực tiếp (gián tiếp) bầu ra nên có nhiều quyền lực. Cơ quan này có chức năng lập pháp, đặt ra những quy định khuôn mẫu cho tổ chức, hoạt động các cơ quan nhà nƣớc khác và các hành vi của công dân, xã hội; mặt khác có chức năng giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc. Chính phủ là cơ quan hành pháp, do lập pháp thành lập ra, chịu trách nhiệm trƣớc lập pháp.
Nguyên tắc “Chính phủ chịu trách nhiệm trƣớc Nghị viện” là cơ sở để Nghị viện giải tán Chính phủ. Chính phủ do Thủ tƣớng đứng đầu sẽ không chịu trách nhiệm trƣớc nguyên thủ quốc gia mà chịu trách nhiệm trƣớc Nghị viện. Nguyên thủ quốc gia trong chính thể này không hình thành bằng con đƣờng “cha truyền con nối” nhƣ chính thể quân chủ đại nghị mà bằng con đƣờng bầu cử, do Nghị viện bầu lên. Do vậy Nguyên thủ quốc gia chịu trách nhiệm trƣớc Nghị viện.
Chính phủ do Thủ tƣớng đứng đầu sẽ không chịu trách nhiệm trƣớc Nguyên thủ quốc gia mà chịu trách nhiệm trƣớc Nghị viện. Chính xuất phát từ lý do nguyên thủ quốc gia không do nhân dân bầu lên nên Nguyên thủ quốc gia không có thực quyền dù đƣợc Hiến pháp quy định là có thẩm quyền rộng rãi. Ở tất cả các Bản Hiến pháp của các quốc gia theo hình thức chính thể cộng hòa đại nghị đều ghi nhận Nguyên thủ quốc gia không đứng đầu hành pháp và cũng không là thành viên của hành pháp. Ngoài ra ở 9 z các nƣớc theo mô hình chính thể cộng hòa đại nghị hay quân chủ đại nghị đều ghi nhận nguyên tắc “không chịu trách nhiệm” của Nguyên thủ quốc gia.
Khoản 1, Điều 90 Hiến pháp Cộng hoà Ý: “Tổng thống nước cộng hoà không phải chịu trách nhiệm về những hành động thực hiện trong quá trình thực thi nghĩa vụ Tổng thống, trừ trường hợp phạm tội phản quốc hoặc vi phạm Hiến pháp” [14, tr. 367], bên cạnh đó còn có quốc gia vẫn quy định việc chịu trách nhiệm của tổng thống khi thực hiện chức trách của mình trƣớc Quốc hội liên bang nhƣ quy định trong Hiến pháp cộng hòa Áo. Một số quốc gia quy định khi một cá nhân đƣợc bầu làm Tổng thống thì ngƣời đó phải từ bỏ Đảng phái, điều này khó thực hiện bởi lẽ việc giới thiệu ngƣời ứng cử, hay khi tranh cử thì chí ít cũng phải đƣợc sự ủng hộ của Đảng. Mặt khác để chứng minh cho việc không trung lập của Tổng thống, đó là trên thực tế văn bản do tổng thống ký chỉ có hiệu lực khi có chữ ký “phó thự”của các hàm Bộ trƣởng hay trên Bộ trƣởng.
Điều này thể hiện sự vô tƣ của Tổng thống khi ngƣời trực tiếp chịu trách nhiệm về văn bản do Tổng thống ban hành là ngƣời ký phó thự. Ngoài ra Hiến pháp của các quốc gia theo loại hình chính thể cộng hòa đại nghị còn quy định Tổng thống là ngƣời bổ nhiệm ngƣời đứng đầu Chính phủ nhƣng quy cách bổ nhiệm nhƣ thế nào lại không đƣợc quy định rõ. Thay vào đó là sự bổ sung của tập tục không thành văn, ngƣời đứng đầu cơ quan hành pháp là ngƣời đƣợc đa số sự ủng hộ của Nghị sĩ trong Nghị viện. Vậy Tổng thống không còn sự lựa chọn nào khác là bầu ngƣời đứng đầu của Đảng chiếm đa số ghế trong Nghị trƣờng làm Thủ tƣớng.
Tất cả các phân tích trên đều chứng tỏ rằng Nguyên thủ quốc gia ở chính thể cộng hòa đại nghị là ngƣời không có thực quyền.