Chương 1 LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Cơ sở giáo dục đại học và chính sách phát triển nhân lực trong cơ sở giáo dục đại học 1. Cơ sở giáo dục đại học Cơ sở giáo dục đại học được quy định cụ thể tại Luật số 34/2018/QH14 ngày 19/11/2018 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học như sau: “Cơ sở giáo dục đại học có tư cách pháp nhân, bao gồm đại học, trường đại học và cơ sở giáo dục đại học có tên gọi khác phù hợp với quy định của pháp luật. Đại học quốc gia, đại học vùng là đại học thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia, nhiệm vụ phát triển vùng của đất nước.
Cơ sở giáo dục đại học bao gồm các loại hình: Cơ sở giáo dục đại học công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và là đại diện chủ sở hữu; Cơ sở giáo dục đại học tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động. Các loại hình cơ sở giáo dục đại học bình đẳng trước pháp luật. Căn cứ vào năng lực và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cơ sở giáo dục đại học xác định mục tiêu phát triển, định hướng hoạt động như sau: Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu; Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng” [25, Điều 7]. Nhân lực trong các cơ sở giáo dục đại học 1.
Khái niệm *Khái niệm về nhân lực Hiện nay, trên thế giới và trong nước khái niệm về nhân lực được hiểu theo nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau, từ các góc độ khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt: Nhân lực là “sức người” [27, tr.645], sức 8 người ở đây được hiểu bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách của con người được huy động trong quá trình lao động. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã đưa ra khái niệm nhân lực: Nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động. Như vậy nhân lực được hiểu theo hai nghĩa, theo nghĩa rộng, nhân lực là toàn bộ nguồn lực con người tồn tại trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ, nguồn lực này là bộ phận dân số có khả năng lao động, có khả năng huy động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Do vậy, nhân lực bao gồm toàn bộ dân số có thể phát triển bình thường (gồm những người chưa đến độ tuổi lao động và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động). Theo nghĩa hẹp, nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có khả năng huy động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Những người không có khả năng lao động, không thể huy động vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội thì không nằm trong khái niệm này. Đối với mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau, việc xác định độ tuổi lao động cũng khác nhau.
Ở Việt Nam, độ tuổi lao động hiện nay được quy định trong Bộ Luật Lao động đối với nam từ 15 đến 60 tuổi, đối với nữ từ 15 đến 55 tuổi. Những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang lao động, những người trong độ tuổi lao động có sức khỏe bình thường đang tìm kiếm việc làm, mong muốn có việc làm, mong muốn lao động. Theo quan điểm kinh tế học, nhân lực là bộ phận dân cư trong độ tuổi lao động theo quy định có khả năng lao động, đóng góp cho sự phát triển kinh tế. Một số quan điểm khác cho rằng nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động, có khả năng lao động.
Như vậy, nhân lực bao gồm những người chưa đến độ tuổi lao động và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, những người trên độ tuổi lao động đang 9 làm việc trong nền kinh tế quốc dân. Con người là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững của mỗi quốc gia. Đại hội Đảng khóa VIII, Đảng ta xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước “phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [38]. Đảng ta khẳng định nguồn lực cơ bản để thực hiện CNH, HĐH đất nước đó là: Nguồn lực con người Việt Nam, nguồn lực tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, cơ sở vật chất, tiềm năng khoa học vốn có), nguồn lực ngoài nước (vốn, thị trường, công nghệ, kinh nghiệm quản lý,…) trong đó nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất.
Tiến sĩ khoa học Phạm Minh Hạc thì “Nguồn lực con người là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [10, tr. Khái niệm “nhân lực” được hiểu như là khái niệm “nguồn lực con người”. Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Nói tới nguồn lực con người hay nhân lực không chỉ là số lượng người lao động và số người sẽ lao động mà cả chất lượng con người đó.
Số lượng nhân lực xác định bởi qui mô, cơ cấu tuổi, giới tính. Chất lượng nhân lực bao gồm cả thể lực, trí lực và tâm lực. Thể lực: Thể lực của nhân lực chính là sức khỏe của từng con người thể hiện ở sức vóc, tình trạng sức khỏe, thể lực chịu ảnh hưởng của giới tính, tuổi tác, mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe, y tế và sự rèn luyện của từng người. Nhân lực có sức khỏe tốt thể hiện qua sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ để đáp ứng được yêu cầu của công việc.
Trí lực được xác định bởi sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu, quan điểm nhận thức, kỹ năng được phát triển thông qua giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cùng với hoạt động thực tiễn của con 10 người. Trí lực thể hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc, tính chuyên nghiệp trong công việc. Tâm lực là phẩm chất tâm lý-xã hội, nhân cách con người. Tâm lực là giá trị chuẩn mực đạo đức, giá trị nhân cách con người thể hiện ở phong cách sống, phong cách làm việc, trách nhiệm với xã hội, con người xung quanh.
Trí lực giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển nhân lực; Thể lực, tâm lực quyết định năng lực hoạt động của con người, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nhân lực. Trên cơ sở các quan niệm luận văn này cho rằng: nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người bao gồm thể lực, trí lực, tâm lực có khả năng lao động, có khả năng huy động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Bên cạnh khái niệm “nhân lực” người ta thường dùng khái niệm “nguồn nhân lực”. Nguyễn Thanh “nguồn nhân lực, nguồn lực con người là tổng thể các chỉ số phát triển con người mà con người có được nhờ sự trợ giúp của cộng đồng xã hội và sự nỗ lực của bản thân, là tổng thể số lượng dân và chất lượng con người, là tổng thể sức mạnh thể lực, trí lực, kinh nghiệm sống và nhân cách, đạo đức, lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chuyên môn và tính năng động trong công việc mà bản thân con người và xã hội có thể huy động vào cuộc sông lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội” [26, tr.
Có thể hiểu khái niệm “nhân lực” và khái niệm “nguồn nhân lực” là sự thống nhất. Thứ nhất, đều được hiểu là nguồn lực con người; Thứ hai, là số lượng dân và chất lượng con người bao gồm thể lực và trí lực, phẩm chất tâm lý, nhân cách con người có thể huy động trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội đất nước. 11 * Khái niệm nhân lực trong các cơ sở giáo dục đại học Nhân lực trong tổ chức là nguồn lực con người, nhân tố con người trong tổ chức ấy. Nhân lực trong tổ chức thường gắn với hai yếu tố đó là con người và công việc tức là con người lao động và công việc người đó được sắp xếp, phân công làm việc.
Nhân lực trong cơ sở giáo dục đại học là những người đang làm việc trong cơ sở giáo dục đại học, nghĩa là toàn bộ đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, nghiên cứu viên, chuyên viên, kế toán viên, nhân viên, kỹ thuật,…vv và người lao động. Vấn đề nhân lực trong tổ chức nói chung hay nhân lực trong cơ sở giáo dục đại học thường gắn với vấn đề tuyển chọn; đào tạo, bồi dưỡng; bố trí, sử dụng; bổ nhiệm và đãi ngộ. Phân loại nhân lực trong cơ sở giáo dục đại học Căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ hoạt động, nhân lực trong các cơ sở giáo dục đại học được chia thành các nhóm: Cán bộ quản lý; cán bộ giảng dạy và nghiên cứu; cán bộ nghiệp vụ; người lao động. * Đội ngũ cán bộ quản lý trong cơ sở giáo dục đại học Cán bộ quản lý trong cơ sở giáo dục đại học bao gồm công chức (người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu); viên chức làm nhiệm vụ quản lý tại các khoa, phòng, ban, viện, trung tâm, văn phòng thuộc cơ sở giáo dục đại học.
Cán bộ quản lý giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động lý trong cơ sở giáo dục đại học. - Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học được quy định như sau: “Hiệu trưởng trường đại học, giám đốc đại học, giám đốc học viện, (gọi chung là Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học) là người chịu trách nhiệm quản lý, điều hành các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học theo quy định của pháp luật, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học. 12 Tiêu chuẩn Hiệu trưởng được quy định như sau: Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có trình độ tiến sĩ, có đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ, có uy tín khoa học và kinh nghiệm quản lý giáo dục đại học; độ tuổi đảm nhiệm chức vụ Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học công lập theo quy định của pháp luật; Đáp ứng tiêu chuẩn cụ thể của Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học được quy định trong quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học.