Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 1. Các khái niệm liên quan 1. Đô thị và quản lý trật tự đô thị 1. Quan niệm về đô thị Theo giáo trình “Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị”, đô thị Việt Nam được hiểu là: “một khu dân cư, trong đó lực lượng lao động chủ yếu là phi nông nghiệp, sống và làm việc theo lối sống thành thị” [42, tr.
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị, thì: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn” [34]. Đô thị có những đặc điểm sau: Thứ nhất, đô thị như một cơ thể sống. Đặc điểm này xuất phát từ tính chất cấu trúc hoàn chỉnh và đồng bộ của từng bộ phận cũng như của toàn bộ cơ thể đô thị và tính chất luôn vận động của nó. Hệ thống chức năng vận động của đô thị là toàn bộ các hoạt động của nền kinh tế - xã hội đô thị trên cơ sở hạ tầng đô thị.
Giống như một cơ thể sống, bất kỳ một sự “trục trặc” nào trong hệ thống cấu trúc cũng sẽ dẫn tới những rối loạn trong các hoạt động đô thị. Vì vậy, sự cân bằng, ổn định, bền vững là mục tiêu số 1 của đô thị. Thứ hai, đô thị luôn luôn phát triển. Đặc điểm này vừa biểu hiện tính “sống” của đô thị, đồng thời biểu hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa đô thị với xã hội lời người.
Sự hình thành và phát triển của đô thị gắn liền với lịch sử phát triển của loài người, đặc biệt là gắn liền với sự phát triển cuat nền kinh tế hàng 9 hóa. Xã hội loài người luôn phát triển, kinh tế hàng hóa luôn phát triển do đó đô thị luôn phát triển. Đặc điểm này cũng cho thấy sự hình thành , tồn tại, phát triển của đô thị chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế - xã hội. Đặc biệt là các quy luật của nền kinh tế thị trường.
Tác động này vừa là thời cơ, vừa là thách thức cho sự phát triển ổn định, bền vững của đô thị. Thứ ba, sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được Mặc dù các đô thị được hình thành và phát triển theo các quy luật khách quan của nền kinh tế - xã hội, nhưng con người có thể tham gia và điều khiển được sự phát triển đó. Nói cách khác, đô thị được coi là một hệ điều khiển, tuy nhiên là một hệ mở, một hệ điều khiển bán hoàn chỉnh. Con người chỉ có thể điều chỉnh được sự hình thành, hoạt động và phát triển của đô thị theo đúng các quy luật khách quan của nó.
Con người có thể định hướng, có thể can thiệp vào sự vận động của đô thị, chứ không thể “bắt” đô thị vận động theo ý chủ quan trái với quy luật của mình. Một đô thị hay khu đô thị là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó. Các đô thị có thể là thành phố, thị xã, trung tâm dân cư đông đúc nhưng thuật từ này thông thường không mở rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp. Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa.
Đo đạt tầm rộng của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở rộng đô thị, và biết được các số liệu về dân số nông thôn và thành thị. Không như một đô thị, một vùng đô thị không chỉ bao gồm đô thị mà còn bao gồm các thành phố vệ tinh cộng vùng đất nông thôn nằm xung quanh có liên hệ về kinh tế xã hội với thành phố đô thị cốt lỏi, tiêu biểu là mối quan hệ từ công ăn việc làm đến việc di chuyển hàng ngày ra vào mà trong đó thành phố đô thị cốt lỏi là thị trường lao động chính. Thật vậy, các đô thị thường kết hợp và phát triển như trung tâm hoạt động kinh tế/dân số trong một vùng đô thị lớn hơn. Các vùng đô thị thường thường được định nghĩa bằng việc sử 10 dụng các quận (như ở Hoa Kỳ) hoặc các đơn vị chính trị cấp quận làm đơn vị nền tảng.
Quận có chiều hướng hình thành các ranh giới chính trị bất di bất dịch. Các kinh tế gia thường thích làm việc với các thống kê xã hội và kinh tế dựa vào các vùng đô thị. Các đô thị được dùng để thống kê thích hợp hơn trong việc tính toán việc sử dụng tỉ lệ đất quân bình trên đầu người và mật độ dân cư (theo Dumlao & Felizmenio 1976). Quan niệm về quản lý trật tự đô thị * Quan niệm về trật tự đô thị Trật tự đô thị là sự sắp xếp, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội đô thị hoạt động theo một quy tắc, quy chuẩn phù hợp các quy định của pháp luật hiện hành của đô thị đó, để đảm bảo cho môi trường dân cư của đô thị đó được phát triển bền vững theo nguyên tắc nhất định của chủ thể quản lý.
* Quan niệm về quản lý trật tự đô thị Từ những quan niệm chung về quản lý, về trật tự đô thị có thể đi đến quan niệm: Quản lý trật tự đô thị là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và các ncá nhân có thẩm quyền, trên cơ sở Hiến pháp, Luật, Chính sách để can thiệp vào các lĩnh vực đô thị như: kinh tế, giao thông, xây dựng, trật tự xã hội đô thị. cơ quan hành chính nhà nước bám theo những nguyên tắc, trật tự nhất định, đảm bảo đúng theo phương hướng được xác định trước đó để điều chỉnh các hoạt động của đô thị đi theo [20]. Quản lý trật tự đô thị có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, quản lý trật tự đô thị có thể do nhiều chủ thể tham gia. Tuy nhiên, trong hệ thống chủ thể quản lý trật tự đô thị, với tư cách đại diện công quyền, thực hiện quản lý mang quyền lực nhà nước cơ quan là chủ thể chủ yếu chính là các cơ quản lý hành chính nhà nước.
Thứ hai, quản lý trật tự đô thị của các chủ thể dựa trên cơ sở pháp lý trực tiếp là pháp luật, chính sách về trật tự đô thị. Toàn bộ nội dung, chương trình, kế hoạch của quản lý trật tự đô thị là việc các chủ thể quản lý ban hành pháp 11 luật, tổ chức thực hiện pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến trật tự đô thị ở các lĩnh vực trật tự xây dựng, vệ sinh môi trường và trật tự vỉa hè. Thứ ba, quản lý trật tự đô thị về bản chất là hoạt động của con người, là chru thể quản lý theo chức năng nhiệm vụ liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống như trật tự xây dựng, trật tự vỉa hè và vệ sinh môi trường, tác động trực tiếp đến nhu cầu sinh hoạt, môi trường sống của con người, các hoạt động này có những tính chất phức tạp theo sự phát triển chung của xã hội của đô thị. Do vậy, quản lý các lĩnh vực của trật tự đô thị cần phải được thực hiện có khoa học, logic, nhanh chóng phù hợp với sự vận động, phát triển của đô thị trong tiến trình hội nhập và phát triển.
Thứ tư, phạm vi quản lý trật tự đô thị có nội dung rất rộng bao trùm nhiều vấn đề của đời sống xã hội như quản lý hành chính, nhân khẩu, nguyên vật liệu, công tác phòng cháy, chữa cháy. tuy nhiên những vấn đề nổi trội là quản lý vệ sinh môi trường, hoạt động tại vỉa hè, lòng lề đường và trật tự xây dựng đô thị. Chính sách quản lý trật tự đô thị Cho đến hiện tại trong nghiên cứu khoa học có không ít định nghĩa, quan điểm khác nhau về chính sách công, trong đó có một số định nghĩa khá phức tạp và bao hàm tương đối rộng các chức năng và hoạt động liên quan đến chính sách công và thực hiện chính sách công: Thomas Dye (năm 1972) đưa ra một định nghĩa khá súc tích về chính sách công như sau: “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” [18]. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Hải: Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [16, tr.
Cũng nghiên cứu về chính sách công, quan điểm của các nhà nghiên cứu tại Viện Chính trị học cho 12 rằng: “…chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” [53]. Theo tác giả Lê Như Thanh (2016): Chính sách công là một tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển” [38, tr. Từ cách tiếp cận về quản lý trật tự đô thị, chính sách công, có thể hiểu về chính sách quản lý trật tự đô thị như sau: Chính sách quản lý trật tự đô thị là tập hợp các quyết định của Nhà nước, chính quyền địa phương nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ thực hiện để giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc quản lý trật tự đô thị trong các lĩnh vực xây dựng đô thị, vỉa hè đô thị, môi trường đô thị. Thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị Thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị là quá trình thực hiện các chương trình hoặc các chính sách quản lý trật tự đô thị; nó biểu thị việc chuyển các kế hoạch thành thực tế.
Nói các khác, chúng ta có thể hiểu về thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị bao gồm các hoạt động có tổ chức, hệ thống được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, có chức năng, nhiệm vụ thực hiện hướng tới đạt các mục đích và mục tiêu tuyên bố trong chính sách quản lý trật tự đô thị.