Tổng quan nghiên cứu

Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện là một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, góp phần mở rộng lưới an toàn cho người lao động khu vực phi chính thức và nông dân. Tại Việt Nam, ước tính toàn quốc vẫn còn hơn 25 triệu người trong độ tuổi lao động chưa tham gia bất kỳ loại hình bảo hiểm xã hội nào. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu tại Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách an sinh, việc mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa có ý nghĩa sống còn đối với tiến trình phát triển kinh tế bền vững.

Đề tài nghiên cứu "Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông" được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng công tác triển khai chính sách trong giai đoạn 2016 - 2020, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giai đoạn 2021 - 2025. Huyện Krông Nô là địa bàn miền núi đặc thù thuộc tỉnh Đắk Nông với 12 đơn vị hành chính cấp xã, diện tích tự nhiên đạt 813,74 km² và quy mô dân số năm 2020 là 79.235 người thuộc 20 dân tộc anh em.

Trong giai đoạn khảo sát, số lượng người tham gia BHXH tự nguyện tại huyện đã tăng trưởng từ 69 người năm 2016 lên 1.184 người năm 2020, nâng tổng số tiền thu quỹ đạt 2,3 tỷ đồng (tăng hơn 200% so với năm 2019). Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ thực tế mới chỉ đạt khoảng 2,1% so với quy mô hơn 56.000 người trong độ tuổi lao động trên toàn địa bàn. Kết quả nghiên cứu mang giá trị thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực, chỉ rõ các điểm nghẽn chính sách và định hình chiến lược phát triển an sinh xã hội cấp cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết an sinh xã hội hiện đại và lý thuyết thực thi chính sách công. Trọng tâm lý thuyết an sinh xã hội nhấn mạnh nguyên tắc "chia sẻ rủi ro", "lấy số đông bù số ít" và nguyên tắc "có đóng - có hưởng", đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi hết tuổi lao động hoặc gặp rủi ro tử tuất. Đồng thời, mô hình thực thi chính sách công được vận dụng để phân tích các khâu từ ban hành văn bản chỉ đạo, tổ chức bộ máy, quản lý thu quỹ đến truyền thông và vận động quần chúng.

Khung lý thuyết của luận văn làm rõ 4 khái niệm cốt lõi: Bảo hiểm xã hội tự nguyện, Quản lý thu BHXH, Lao động khu vực phi chính thức và Quy trình tổ chức thực hiện chính sách. Căn cứ theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Nghị định số 134/2015/NĐ-CP, chính sách BHXH tự nguyện được thiết kế với mức đóng 22% vào quỹ hưu trí và tử tuất, trong đó Nhà nước hỗ trợ tiền đóng tối đa 120 tháng theo chuẩn nghèo nông thôn với 3 mức: 30% cho hộ nghèo, 25% cho hộ cận nghèo và 10% cho các đối tượng khác.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2016 - 2020 của cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Krông Nô kết hợp với dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa từ tháng 11/2020 đến tháng 02/2021. Cỡ mẫu khảo sát sơ cấp bao gồm 250 người lao động tự do, tiểu thương và nông dân được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên trên địa bàn 12 xã, thị trấn của huyện. Lý do chọn mẫu phân tầng nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho cơ cấu dân cư đa dạng với 20 dân tộc thiểu số và phản ánh chính xác sự khác biệt về địa hình từ vùng núi cao đến các thung lũng ven sông.

Về phương pháp phân tích, đề tài áp dụng phương pháp thống kê mô tả để lượng hóa các chỉ tiêu như số tuyệt đối, tỷ lệ phần trăm hoàn thành kế hoạch, mức đóng bình quân và phương pháp thống kê so sánh đa chiều giữa các năm. Việc phân tổ thống kê trên phần mềm chuyên dụng giúp kiểm chứng mức độ tác động của các biến số nhân khẩu học (độ tuổi, thu nhập, nghề nghiệp) tới quyết định tham gia bảo hiểm, đảm bảo tính khách quan và khoa học cho các kết luận nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ phát triển người tham gia BHXH tự nguyện có sự bứt phá mạnh mẽ nhưng quy mô tuyệt đối còn thấp. Số người tham gia đã tăng gấp 17,1 lần, từ 69 người năm 2016 lên 1.184 người năm 2020, hoàn thành 100% chỉ tiêu thu với số tiền 2,3 tỷ đồng.

Thứ hai, tỷ lệ bao phủ BHXH tự nguyện còn cách rất xa so với tiềm năng thực tế. Với 1.184 người tham gia trên tổng số hơn 56.000 người trong độ tuổi lao động, tỷ lệ bao phủ thực tế năm 2020 mới chỉ đạt xấp xỉ 2,1%, để lại một khoảng trống an sinh rất lớn với hơn 54.000 lao động tự do chưa được bảo vệ.

Thứ ba, mức độ hiểu biết về chính sách của người dân còn rất hạn chế. Kết quả khảo sát thực tế chỉ ra rằng có tới 91% người buôn bán nhỏ lẻ, lao động tự do và người bán hàng rong chưa từng tiếp cận hoặc hiểu đúng về các quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Thứ tư, cơ cấu tham gia có sự lệch pha về mức đóng và độ tuổi. Đại đa số người tham gia chỉ lựa chọn mức đóng thấp nhất dựa trên mức chuẩn hộ nghèo nông thôn. Đồng thời, nhóm đối tượng tham gia chủ yếu tập trung ở độ tuổi trung niên trở lên với mục đích đóng tiếp để đủ thời gian hưởng chế độ hưu trí hoặc nhắm vào trợ cấp mai táng và chế độ tử tuất.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ tham gia thấp tại huyện Krông Nô bắt nguồn từ các yếu tố kinh tế - xã hội đặc thù. Cơ cấu kinh tế của huyện vẫn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp với tỷ trọng chiếm 57,06% năm 2020, thu nhập của người dân bấp bênh theo giá nông sản (cà phê, hồ tiêu), trong khi địa hình chia cắt với 21 thôn bon thuộc vùng đặc biệt khó khăn khiến công tác tuyên truyền gặp nhiều cản trở.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại vùng Tây Nguyên và duyên hải miền Trung, gói quyền lợi của BHXH tự nguyện hiện nay chỉ bao gồm 2 chế độ (hưu trí và tử tuất), thiếu vắng các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động khiến tính hấp dẫn bị giảm sút đáng kể so với BHXH bắt buộc.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét sự chuyển dịch khi được trình bày qua biểu đồ tăng trưởng cột kết hợp đường xu hướng giai đoạn 2016 - 2020. Qua đó, biểu đồ thể hiện rõ bước nhảy vọt về doanh thu từ dưới 200 triệu đồng năm 2016 lên 2,3 tỷ đồng năm 2020. Bên cạnh đó, bảng phân tổ chéo giữa mức thu nhập và độ tuổi đã minh chứng rằng rào cản thời gian đóng 20 năm là nguyên nhân trực tiếp khiến lao động trẻ dưới 35 tuổi e ngại tham gia.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới toàn diện nội dung và phương thức truyền thông chính sách. Cơ quan BHXH huyện Krông Nô chủ trì phối hợp với Hội Phụ nữ, Hội Nông dân và Bưu điện huyện triển khai các hội nghị tư vấn nhóm nhỏ trực tiếp tại từng thôn, bon, ứng dụng nền tảng mạng xã hội và hệ thống loa truyền thanh cơ sở. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ người dân nhận biết chính sách lên trên 85% và phát triển mới tối thiểu 500 người tham gia mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2025.

Thứ hai, chuẩn hóa và mở rộng mạng lưới đại lý thu tại 12 xã, thị trấn. Tiến hành đào tạo lại kỹ năng tư vấn chuyên sâu cho 100% nhân viên đại lý Bưu điện và cán bộ không chuyên trách cấp xã trước quý 4 năm 2021. Giao chỉ tiêu định lượng cụ thể cho mỗi đại lý phát triển từ 30 đến 50 người tham gia mới mỗi năm, gắn liền chế độ thù lao với trách nhiệm duy trì người tham gia tái tục đóng phí đúng kỳ hạn.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và tinh gọn thủ tục hành chính. BHXH huyện phối hợp với BHXH tỉnh Đắk Nông đẩy nhanh tiến độ cấp mã số định danh, hướng dẫn người dân cài đặt ứng dụng VssID để tự theo dõi quá trình đóng nộp. Cắt giảm thời gian giải quyết hồ sơ đăng ký mới theo mẫu TK1-TS xuống dưới 24 giờ, hỗ trợ tối đa việc cấp đổi sổ cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ tư, tham mưu Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện ban hành cơ chế hỗ trợ tài chính đặc thù. Đề xuất trích một phần ngân sách địa phương và vận động các nguồn quỹ xã hội hóa để hỗ trợ thêm từ 10% đến 15% mức đóng ngoài mức hỗ trợ của Trung ương cho người dân thuộc 21 thôn bon đặc biệt khó khăn, phấn đấu nâng tỷ lệ bao phủ BHXH tự nguyện đạt mốc 5% lực lượng lao động vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý Bảo hiểm xã hội cấp huyện và tỉnh. Cán bộ quản lý thu và truyền thông có thể sử dụng kết quả nghiên cứu như một tài liệu thực chứng để xây dựng quy trình tiếp cận khách hàng, phân loại dữ liệu hộ gia đình tiềm năng và tối ưu hóa hoạt động đại lý thu trên địa bàn nông thôn miền núi.

Nhóm 2: Cấp ủy, chính quyền địa phương và các đoàn thể chính trị - xã hội. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học xác đáng giúp Ủy ban nhân dân các cấp đưa chỉ tiêu phát triển người tham gia BHXH tự nguyện vào nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và xây dựng chính sách an sinh đặc thù cho 20 dân tộc thiểu số.

Nhóm 3: Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công và Xã hội học. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về khung phân tích thực thi chính sách an sinh, phương pháp chọn mẫu phân tầng và kỹ thuật xử lý dữ liệu định lượng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Nhóm 4: Mạng lưới nhân viên đại lý thu Bưu điện và các tổ chức dịch vụ thu BHXH. Tài liệu giúp nhân viên đại lý nắm bắt tâm lý người lao động phi chính thức, hiểu rõ nguyên nhân vì sao 91% tiểu thương chưa tham gia, từ đó nâng cao kỹ năng thuyết phục và giải quyết vướng mắc thủ tục cho người dân.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách BHXH tự nguyện có điểm gì khác biệt cốt lõi so với BHXH bắt buộc? BHXH tự nguyện dành cho công dân từ đủ 15 tuổi không thuộc diện bắt buộc, người tham gia tự đóng 22% vào quỹ và chỉ được hưởng 2 chế độ là hưu trí và tử tuất. Trong khi đó, BHXH bắt buộc bao gồm 5 chế độ với tổng mức đóng 26%, trong đó người sử dụng lao động đóng 17,5% và người lao động đóng 8%.

Mức hỗ trợ tài chính của Nhà nước cho người tham gia BHXH tự nguyện được quy định như thế nào? Theo Nghị định số 134/2015/NĐ-CP, từ ngày 01/01/2018 Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ chuẩn nghèo nông thôn: 30% đối với hộ nghèo, 25% đối với hộ cận nghèo và 10% đối với đối tượng khác. Thời gian hỗ trợ tối đa cho mỗi cá nhân là 10 năm (tương đương 120 tháng) tham gia thực tế.

Vì sao số lượng người tham gia BHXH tự nguyện tại Krông Nô tăng mạnh năm 2020 nhưng tỷ lệ bao phủ vẫn ở mức thấp? Năm 2020 số người tham gia đạt 1.184 người, tăng gấp 17,1 lần so với năm 2016 nhờ công tác ra quân tuyên truyền quyết liệt. Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ mới chỉ đạt 2,1% do tổng lực lượng lao động của huyện lên tới hơn 56.000 người, trong đó phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số có thu nhập bấp bênh.

Những rào cản lớn nhất khiến lao động tự do tại địa bàn khó tiếp cận BHXH tự nguyện là gì? Khảo sát thực địa chỉ ra 3 rào cản chính gồm: 91% lao động phi chính thức chưa nắm rõ chính sách, thời gian đóng 20 năm để hưởng lương hưu quá dài so với tâm lý tích lũy ngắn hạn, và điều kiện kinh tế thuần nông với 21 thôn bon đặc biệt khó khăn khiến nguồn tài chính tích lũy không ổn định.

Người tham gia BHXH tự nguyện cần đóng bao nhiêu năm để được hưởng lương hưu hàng tháng? Người tham gia cần đóng đủ từ 20 năm BHXH trở lên và đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp đã đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ 20 năm đóng thì được đóng một lần cho những năm còn thiếu hoặc tiếp tục đóng định kỳ cho đến khi đủ 20 năm để hưởng lương hưu.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và quy trình thực thi chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện tại địa bàn miền núi đặc thù.
  • Phân tích bức tranh thực tiễn huyện Krông Nô giai đoạn 2016 - 2020 với bước tiến vượt bậc từ 69 người lên 1.184 người tham gia, thu 2,3 tỷ đồng.
  • Phát hiện các điểm nghẽn nghiêm trọng về tỷ lệ bao phủ thực tế chỉ đạt 2,1% và khoảng trống thông tin khi 91% lao động phi chính thức chưa hiểu rõ chính sách.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về truyền thông nhóm nhỏ, nâng cao chất lượng đại lý thu tại 12 xã thị trấn và hỗ trợ tài chính đặc thù giai đoạn 2021 - 2025.
  • Cung cấp nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn chuẩn mực, hỗ trợ đắc lực cho các nhà hoạch định chính sách công và cơ quan an sinh xã hội cấp cơ sở.

Chính quyền địa phương và cơ quan Bảo hiểm xã hội cần nhanh chóng phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm mở rộng diện bao phủ an sinh, đảm bảo quyền lợi hưu trí bền vững cho người dân vùng cao.