Đặt vấn đề Nói đến ngành chăn nuôi, trƣớc tiên phải nói đến ngành chăn nuôi lợn, bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó đến đời sống, kinh tế xã hội của con ngƣời. Thịt lợn là loại thực phẩm rất phổ biến, giá trị dinh dƣỡng cao, có thể chế biến thành nhiều món ngon, khi chế biến lại ít làm giảm phẩm chất thịt do đó rất đƣợc ƣa chuộng. Ngành chăn nuôi lợn còn cung cấp các sản phẩm phụ khác cho ngành công nghiệp chế biến nhƣ: da, mỡ, xƣơng,… Bên cạnh đó còn cấp một lƣợng lớn phân bón cho ngành trồng trọt hay tận dụng xây hầm biogas để làm khí đốt, thắp sáng. Ngoài ra, ngành chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho ngƣời dân.
Trong những năm gần đây, nhờ việc áp thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất đã thúc đẩy tổng đàn lợn tăng, cơ cấu đàn lợn đa dạng, khả năng phòng bệnh tốt, làm cho năng suất chăn nuôi ngày càng tăng lên, thời gian nuôi đƣợc rút ngắn, lợi nhuận chăn nuôi ngày càng cao. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn có những chính sách, biện pháp cụ thể nhằm phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng. Theo quyết định số 10/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lƣợc phát triển chăn nuôi đến năm 2020, “Về chăn nuôi lợn: phát triển nhanh quy mô đàn lợn ngoại theo hƣớng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trƣờng; duy trì ở quy mô nhất định hình thức chăn nuôi lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ và của một số vùng. Tổng đàn lợn tăng bình quân 2,0% năm, đạt khoảng 35 triệu con, trong đó đàn lợn ngoại nuôi trang trại, công nghiệp chiếm 37%”.
n 2 Do nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn, ngành chăn nuôi lợn nƣớc ta đang chuyển mình từ chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi hộ gia đình sang chăn nuôi tập trung với quy mô vừa, lớn và chăn nuôi chủ yếu là các giống lợn ngoại. Những giống lợn ngoại có khả năng sinh trƣởng, phát triển nhanh nhƣng khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh và chống chịu bệnh tật còn kém. Đây là vấn đề khó khăn mà các trang trại chăn nuôi thƣờng gặp phải. Đối với các trang trại chăn nuôi lợn nái, vấn đề thƣờng gặp và cũng là vấn đề nan giải hiện nay vẫn là bệnh phân trắng lợn con ở lợn con theo mẹ.
Bệnh xuất hiện lúc ồ ạt, lúc lẻ tẻ tùy vào sự thay đổi ít, nhiều của các yếu tố chăm sóc, nuôi dƣỡng và sự thay đổi của thời tiết khí hậu, với tỷ lệ mắc bệnh cao 70% - 80%, có nơi 100%, tỷ lệ chết có thể 18% - 20% (Đào Trọng Đạt và cs. Khi lợn con bị bệnh điều trị lâu ngày không khỏi sẽ gây ra chi phí điều trị cao, lợn con bị còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng đối với các bệnh khác, ảnh hƣởng đến khối lƣợng cai sữa của đàn lợn giống, ảnh hƣởng đến khả năng sinh trƣởng, phát triển của đàn lợn con sau này. Chính vì vậy mà bệnh phân trắng lợn con đã đƣợc nghiên cứu từ rất lâu, để từ đó tìm ra nguyên nhân, biện pháp phòng và trị hiệu quả sao cho đạt kết quả tốt nhất. Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn sản xuất cũng nhƣ góp thêm tƣ liệu về quy trình tiêm phòng, vệ sinh phòng bệnh, điều trị bệnh phân trắng lợn con tại trại lợn giống có hiệu quả, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình chăn nuôi lợn nái sinh sản và phòng trị bệnh phân trắng lợn con tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Hà Nội”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài - Tìm hiểu quy trình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh của trại chăn nuôi. - Nắm đƣợc thực trạng bệnh phân trắng lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi. n 3 - Ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con có hiệu quả.
Yêu cầu của đề tài - Tìm hiểu đúng, đầy đủ về thực trạng chăn nuôi lợn nái sinh sản và tình hình phòng trị bệnh phân trắng tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch. - Số liệu đƣa ra dƣới dạng bảng biểu. - Thực hành công tác thú y cơ sở và công tác chăn nuôi. - Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch nằm tại xã Ba Trại - một trong bảy xã miền núi của huyện Ba Vì – thành phố Hà Nội, nằm trong vùng bán sơn địa. - Phía Đông giáp với xã Tản Lĩnh.
- Phía Tây giáp xã Thuần Mỹ. - Phía Bắc giáp xã Cẩm Lĩnh. Đặc điểm khí hậu thời tiết: Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch chịu sự ảnh hƣởng trực tiếp của khí hậu miền Bắc, bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa. Sự phối hợp giữa cơ chế gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm, có sự khác biệt rõ rệt giữa mùa nóng và mùa lạnh nên có thể phân ra làm 4 mùa.
Mùa đông lạnh, hanh khô có kèm theo gió mùa, mƣa ít. Mùa hè nóng, mƣa nhiều. Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10), còn đƣợc gọi là mùa xuân và mùa thu. Đó là một trong những yếu tố khách quan tác động đến quá trình sinh trƣởng, phát triển của vật nuôi và phẩm chất của nông sản.
Lượng mưa: Lƣợng mƣa trung bình năm 2.500 mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8. Nhiệt độ: Nhiệt độ bình quân năm là 23,400C. Mùa nóng bắt đầu từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 9, khí hậu nóng ẩm và mƣa nhiều rồi mát mẻ, khô ráo vào tháng 10. Mùa lạnh bắt đầu từ giữa tháng 11 đến hết tháng 3.
Từ cuối tháng 11 đến tháng 1 rét và hanh khô, từ tháng 2 đến hết tháng 3 lạnh và mƣa phùn kéo dài từng đợt. Trong khoảng tháng 9 đến tháng 11, có những ngày thu với tiết trời mát mẻ và sẽ đón từ hai đến ba đợt không khí lạnh yếu tràn về. n 5 Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm: 86,1%. Vùng thấp thƣờng khô hanh vào tháng 12, tháng 1.
Đặc điểm cơ sở vật chất của trại Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch đƣợc xây dựng trên diện tích đất 2 ha, trong đó kết hợp cả vƣờn cây ăn quả. Có 1 chủ trại, 1 quản lý, 2 kỹ sƣ, 2 tổ trƣởng, 1 nấu ăn, 24 công nhân trực tiếp chăm sóc nuôi dƣỡng đàn lợn. Ƣu điểm: Trại có vị trí thuận lợi cho việc vận chuyển các sản phẩm từ trại đi tiêu thụ, cũng nhƣ vận chuyển thức ăn vào trại, nằm giữa rừng đều cách xa nhà dân, xa các nơi sinh hoạt xã hội nên tránh đƣợc việc tiếp xúc với bên ngoài, giảm thiểu đƣợc dịch bệnh lây lan từ ngoài vào cũng nhƣ từ trong trại ra bên ngoài. Trại đƣợc xây dựng theo hƣớng Đông Nam nên đón đƣợc nắng buổi sáng, tránh đƣợc nắng buổi chiều, trại nằm ở sƣờn đồi nên việc thoát nƣớc rất dễ dàng, mùa mƣa khô ráo không bị ngập nƣớc phân.
Giữa phần dành cho lợn mẹ và phần dành cho lợn con đƣợc ngăn cách bởi khung sắt, tránh lợn mẹ đè chết lợn con. Sàn chuồng cách biệt với mặt đất, có nhiều lỗ để thoát phân thoát nƣớc tiểu nên giữ đƣợc chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ, tiết kiệm đƣợc diện tích. Giữa phần cho lợn mẹ và lợn con có khung sắt chỉ cho lợn con qua lại nên giảm tỷ lệ lợn con bị mẹ đè. Nhƣợc điểm: Diện tích chuồng hẹp.
Nền chuồng hở nên việc che chắn gió gặp khó khăn. Cơ sở vật chất - Nhà xƣởng, chuồng trại (vật kiến trúc) + Chuồng bầu Chuồng nái chửa có 1 chuồng là chuồng sàn, nền đƣợc lát bằng xi măng. Mỗi ô chỉ nuôi 1 con và giữa các ô đƣợc ngăn cách với nhau bằng các khung sắt. Mỗi ô có các chiều đo là: dài x rộng x cao = 2.
n 6 Ƣu điểm: Tiết kiệm đƣợc diện tích, dễ theo dõi chăm sóc, tránh đƣợc sự cắn nhau gây sẩy thai, thuận tiện cho việc tiêm phòng cho lợn chửa. Nhƣợc điểm: Sự vận động của lợn nái bị hạn chế, lợn nằm xuống đứng dậy khó khăn. + Chuồng đẻ Chuồng nái đẻ có 3 chuồng là chuồng sàn, dài x rộng x cao = 2. Sàn đƣợc làm bằng nhựa ở phần cho lợn con nằm và làm bằng bê tông phần để nhốt lợn mẹ.
Sàn cách mặt đất 50cm, có các lỗ nhỏ để thoát nƣớc, thoát phân. Giữa phần dành cho lợn mẹ và phần dành cho lợn con đƣợc ngăn cách bởi khung sắt, tránh lợn mẹ đè chết lợn con. Ƣu điểm: sàn chuồng cách biệt với mặt đất, có nhiều lỗ để thoát phân thoát nƣớc tiểu nên giữ đƣợc chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ, tiết kiệm đƣợc diện tích. Giữa phần cho lợn mẹ và lợn con có khung sắt chỉ cho lợn con qua lại nên giảm tỷ lệ lợn con bị mẹ đè.
Nhƣợc điểm: diện tích chuồng hẹp. Nền chuồng hở nên việc che chắn gió gặp khó khăn. + Chuồng cách ly Có 1 chuồng đƣợc thiết kế theo kiểu chuồng hở, ở đây là nơi nhập lợn mới chuyển về trại. Trại này có 4 ô, mỗi ô có các chiều đo là: dài x rộng x cao = 6 x 5 x 1.
Có một lối đi chung để tiện cho lợn ăn và lùa lên trại bầu. Ƣu điểm: mỗi chuồng nền đƣợc lát bằng xi măng và có diện tích đủ rộng để lợn có thể vận động thoải mái. Nhƣợc điểm: lợn hậu bị nuôi nhốt và chƣa tập lợn ỉa đúng chỗ nên ỉa phân toàn chuồng, là điều kiện để phát sinh mầm bệnh và lây lan từ con ốm sang con lành. - Thiết bị sản xuất (hệ thống nghiền, trộn, sấy, soi tinh trùng, máy hấp.) - Trại có các loại máy móc: Máy quạt công suất lớn, máy nén, máy hàn.
- Trại có các loại các dụng cụ nhƣ thùng đá, chổi quét, ki hốt phân, xe đẩy cám, xe đẩy phân. n 7 - Trại có tổng đàn lợn khoảng 1580 lợn nái. Chuồng bầu với 1264 con nái. Chuồng đẻ với 263 con nái.
Chuồng cách ly có 30 con lợn mới nhập về đang đƣợc cách ly. - Trong trại có các loại thuốc: Apisur, Oxytetracyclin, Amoxycillin, Bcomlex, Oxytoxcin, AD3E, Colistin, Glucose.