mở đầu cho một hướng mới trong nghiên cứu câu tiếng Việt: hướng nghiên cứu câu theo bình diện giao tiếp (cú pháp giao tiếp, thông báo, ngữ dụng) mà trước đó còn ít được chú ý. Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Lộc, cách phân tích, phân loại câu theo đề thuyết mà Cao Xuân Hạo chủ trương không loại trừ và thay thế cách phân tích câu theo bình diện cú pháp như một số tác giả đã chỉ ra [10, 15]. 5 c b) Cách phân tích câu theo đề- thuyết của Hồ Lê Cũng chủ trương phân tích câu theo đề- thuyết, Hồ Lê dựa vào các kiểu quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố trực tiếp tạo nên cấu trúc câu để phân loại câu. Theo ông, ngoài câu một thành phần hay câu gọi tên (thí dụ: Mùa xuân.), các câu hai thành phần đều có cấu tạo đề thuyết và bao gồm bốn kiểu: - Câu chủ -vị (chủ ngữ - vị ngữ) Ví dụ: Ông Ba đi họp.
- Câu đề - ứng (đề ngữ - ứng ngữ) Ví dụ: Quyển sách này, ông Ba mới mua. - Câu cách thức - hành động (thức ngữ - hành động ngữ) Ví dụ: Một cách chậm rãi, ông Ba bắt đầu kể chuyện. - Câu điều kiện - hệ quả (điều kiện ngữ - hệ quả ngữ) Ví dụ: Nhờ gia đình chăm sóc tốt nên ông Ba chóng bình phục. (Dẫn theo [20, 194-195]) Theo nhận xét của Nguyễn Văn Lộc, đề xuất trên đây của Hồ Lê chưa thật sự xuất phát từ bản chất cú pháp của câu và thành phần câu (từ ý nghĩa cú pháp và hình thức cú pháp tương ứng) và chính điều đó không cho phép phân biệt các biến thể khác nhau của một kiểu câu.
Ví dụ: Ông Ba mới mua quyển sách này. → Quyển sách này, ông Ba mới mua. c) Cách phân tích câu của Trần Ngọc Thêm Trong giải pháp của Trần Ngọc Thêm, mặc dù, cặp đề - thuyết cũng được sử dụng để phân tích câu nhưng khác với các tác giả khác, ông vẫn sử dụng các khái niệm truyền thống như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ. Tác giả cho rằng cặp chủ đề - thuật đề (cặp đề - thuyết) không đồng nhất với cặp chủ ngữ - vị ngữ cũng như cặp nêu - báo (cái đã biết - cái mới) [40, 48 - 49].
Về cách phân tích này, Nguyễn Văn Lộc đã nhận xét: với việc đưa các khái niệm đề - thuyết vào việc phân tích câu mà vẫn giữ lại các khái niệm 6 c truyền thống như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ., cách phân tích của Trần Ngọc Thêm đã gợi mở một hướng nghiên cứu phù hợp, theo đó, cấu trúc của câu như là đơn vị đa bình diện có thể được xem xét đồng thời theo các bình diện khác nhau, nghĩa là việc phân tích câu theo đề - thuyết không loại trừ cách phân tích câu theo cấu trúc chủ vị. d) Cách phân tích câu của V. Panfilov là tác giả có cách nhìn nhận có nhiều điểm khác với cách nhìn nhận truyền thống. Xem xét vấn đề thành phần câu dựa vào "những khái niệm xuất phát về cú pháp"được xác định, V.
Panfilov quan niệm "thành phần câu là phạm trù chức năng, đó là yếu tố có quan hệ hình thái - ngữ nghĩa với vị ngữ hoặc với toàn bộ câu" [23,75]. Theo quan niệm này, hệ thống thành phần câu được V. Panfilov xác định gồm các thành phần tiêu biểu như chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ của vị ngữ và trạng ngữ. Vị ngữ mặc dù được coi là đỉnh cú pháp của câu nhưng không được xếp vào số các thành phần câu.
Theo Nguyễn Văn Lộc, quan niệm trên đây của V. Panfilov thể hiện cách nhìn sâu sắc đối với vấn đề cú pháp nói chung, vấn đề thành phần câu nói riêng. Năm 2004, với công trình Thành phần câu tiếng Việt, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp đã đưa ra giải pháp mới mẻ nhằm giải quyết triệt để hơn vấn đề thành phần câu tiếng Việt [40, 122]. Công trình này được coi là một dấu mốc quan trọng trong việc giải quyết vấn đề thành phần câu tiếng Việt.
Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Lộc, cách xác định, phân tích thành phần câu thiên hẳn về mặt hình thức của các tác giả, xét về mặt lí thuyết cũng như khả năng vận dụng vào thực tiễn phân tích cú pháp, cũng còn những hạn chế nhất định như Tomita Kenji đã nhận xét trong lời giới thiệu về công trình này [20,196]. 3) Lí thuyết kết trị và vấn đề phân tích câu về cú pháp theo kết trị của từ a) Vài nét về lí thuyết kết trị Lí thuyết kết trị của L. Tesnière và cách vận dụng vào phân tích câu đã được trình bày cụ thể trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Mạnh Tiến (2017). Có thể nêu tóm tắt vấn đề này như sau: 7 c Theo L.
Tesnière, kết trị của động từ chính là thuộc tính hay khả năng của động từ thu hút vào mình một số lượng nhất định các diễn tố (chủ ngữ, bổ ngữ) cũng tương tự như khả năng của nguyên tử kết hợp với một số lượng xác định các nguyên tử khác. Có thể coi cách hiểu kết trị của động từ như trên đây của L. Tesnière là cách hiểu hẹp về kết trị. Dựa vào số lượng diễn tố mà động từ chi phối, L.Tesnière chia động từ thành động từ không diễn tố hay động từ vô trị (verb avalent, ví dụ : mưa, nắng, sáng, tối): , động từ một diễn tố hay động từ đơn trị (verb monovalent, ví dụ: đi, chạy, nhảy, bơi… ), động từ hai diễn tố hay động từ song trị (verb divalent, ví dụ: ăn, đọc, viết, đánh…), động từ ba diễn tố hay động từ tam trị (verb trivalent, ví dụ: trao, tặng, mời, khuyên…) (dẫn theo Nguyễn Văn Lộc, [20,199]) b) Các công trình vận dụng lí thuyết kết trị vào việc phân tích câu về cú pháp b1) Trong ngôn ngữ học nước ngoài Theo Nguyễn Văn Lộc, sau khi ra đời, lí thuyết kết trị đã nhanh chóng được phổ biến và được áp dụng rộng rãi vào việc phân tích ngữ pháp nói chung, câu nói riêng.
Những tư tưởng, khái niệm, thuật ngữ của lí thuyết kết trị xuất hiện phổ biến trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng như: M. Trong các tác giả trên đây, S. Kanelson là người đã có những kiến giải sâu sắc về vấn đề vận lí thuyết kết trị vào việc phân tích câu. Theo ông, thuộc tính kết trị của vị từ là cơ sở để xác định các thành phần câu như chủ thể, đối thể, hoàn cảnh (chủ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ).
Đề cập đến cách xác định chủ thể (chủ ngữ), S. Kanelson quan niệm "chủ thể (chủ ngữ) của câu đó hoặc là tham tố (argument) duy nhất của vị từ một vị trí hoặc là một trong số các tham tố của vị từ nhiều vị trí thường biểu hiện chức năng chủ đề. Nguyễn Văn 8 c Lộc cho rằng ý kiến trên đây của S. Kanelson là những gợi dẫn hết sức bổ ích khi xác định chủ ngữ, bổ ngữ [20, 201]).
b2) Trong Việt ngữ học Trong Việt ngữ học, lí thuyết kết trị và cách vận dụng lí thuyết này vào việc nghiên cứu ngữ pháp nói chung, câu nói riêng đã được đề cập đến trong các công trình của Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Quy, Đinh Văn Đức, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Hiệp, Lâm Quang Đông và một số tác giả khác. Tuy nhiên, ở hầu hết các tác giả này, lí thuyết kết trị và việc vận dụng vào phân tích ngữ pháp chủ yếu được đề cập khi xem xét, miêu tả vị từ hoặc mặt ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) của câu. Chỉ đến công trình của Nguyễn Mạnh Tiến (2016, Phân tích câu về cú pháp dựa vào thuộc tính kết trị của từ [46]), vấn đề vận dụng lí thuyết kết trị vào việc phân tích câu về cú pháp mới thực sự được đặt ra và được xem xét một cách có hệ thống và chuyên sâu. Tài liệu này cũng là một trong những cơ sở được dựa vào để triển khai một số nội dung quan trọng luận văn cụ thể là vấn đề xác định thành phần chính của câu (vị ngữ) và thành phụ của câu (chủ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ).
Tình hình nghiên cứu về câu không đầy đủ Vấn đề câu không đầy đủ đã được đề cập đến trong một số công trình của các tác giả nước ngoài và trong nước. Dưới đây tôi, xin nêu tóm tắt một số quan niệm về vấn đề này. 1) Các quan niệm về câu không đầy đủ a) Quạn niệm của L.Blum phin Vấn đề phân chia câu bình thường thành câu đầy đủ (câu trọn vẹn) và câu không đầy đủ (câu tỉnh lược) đã được đề cập đến từ lâu trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ nói chung, về ngữ pháp nói riêng.Blum phin, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Mỹ cho rằng: "Có lẽ trong tất cả các ngôn ngữ, câu đều được chia thành hai kiểu cơ bản có thể gọi là câu đầy đủ và câu 9 c không đầy đủ (câu tỉnh lược)" (Dẫn theo [20,427]). Theo ông, câu đầy đủ là câu có hình thức được ưa thích nhất, có tính thông dụng nhất, còn câu không đầy đủ là những câu không có hình thức bình thường thông dụng nhất của câu (Dẫn theo [20,427]).
b) Quan niệm của S. Jakhontov, một nhà ngôn ngữ học người Nga, khi bàn về nguyên tắc xác định thành phần câu trong tiếng Hán, đã đưa ra sự phân biệt câu trọn vẹn (câu đầy đủ) và câu không trọn vẹn (câu không đầy đủ). Theo tác giả, câu không trọn vẹn là câu: - Chỉ có thể hiểu đúng trong ngữ cảnh cụ thể. - Có thể biến nó thành câu không phụ thuộc vào ngữ cảnh bằng cách bổ sung cho nó một hay một số từ.
Tất cả những câu còn lại đều được coi là câu trọn vẹn (Dẫn theo [20,427]). Theo đánh giá của Nguyễn Văn Lộc, cách xác định câu trọn vẹn thông qua câu không trọn vẹn của S. Jakhontov như trên đây được coi là có tính khoa học, chặt chẽ và được nhiều tác giả tán thành, vận dụng. Đây cũng là quan niệm mà tác giả luận văn tiếp thu khi xác định khái niệm câu không đầy đủ.
c) Quan niệm của Diệp Quang Ban Diệp Quang Ban không sử dụng thuật ngữ câu không đầy đủ khi đề cập đến những câu thiếu vắng một hay một số thành phần bắt buộc (chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ). Tác giả phân biệt hai loại câu: câu tỉnh lược và câu dưới bậc. Sự khác nhau giữa hai loại câu này là ở chỗ: - Ở câu tỉnh lược, thành phần bị lược bỏ có thể khôi phục lại được. Ví dụ: “Của đáng mười Nhu chỉ bán được năm.
Có khi Ø chẳng lấy được đồng nào.