CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM TRẺ EM 1. Khái niệm các tội xâm phạm nhân phẩm trẻ em 1. Khái niệm trẻ em trong pháp luật hình sự Việt Nam Quá trình phát triển về thể chất và tâm sinh lý của con người từ khi được sinh ra đến khi chết đi trải qua các giai đoạn khác nhau, trong đó giai đoạn trẻ em là thời kỳ phát triển đầu tiên trong cuộc đời mỗi con người. Theo quy định tại Điều 1 CULHQVQTE 1989 thì: “Trong phạm vi Công ước này trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [19, tr.
Nghĩa là, các quốc gia phê chuẩn hoặc tham gia Công ước này đều phải tuân thủ theo quy định về độ tuổi của trẻ em là dưới 18 tuổi. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn CULHQVQTE Trở thành thành viên của Công ước, hệ thống pháp luật trong nước đã quy định độ tuổi của trẻ em là dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, cho đến nay trong nền khoa học pháp lý nước ta có thể nói chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh và thống nhất về trẻ em, cụ thể là trong việc xác định ranh giới lứa tuổi của trẻ em. Ở Việt Nam vấn đề quy định độ tuổi được coi là "Trẻ em" được quy định tại Luật trẻ em 2016, quy định tại Điều 1 “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [36].
Trên thực tế, ở mỗi một ngành luật chuyên ngành khác nhau thì tùy theo mức độ tiếp cận mà có những quy định liên quan đến độ tuổi và các quyền và nghĩa vụ của trẻ em là khác nhau, như: BLHS 2015; Luật Lao động 2012, Luật Thanh niên 2005, BLDS 2015, Luật Giáo dục 2009 (dự thảo sửa đổi 2018), Luật Quốc tịch 2008 (sửa đổi bổ sung 2017) cũng có những quy định lứa tuổi được coi là trẻ em phù hợp với góc độ tiếp cận của ngành luật đó…. Khái niệm "Trẻ em" không được quy định cụ thể trong Pháp luật hình sự Việt Nam nhưng tại các Điều luật có liên quan nhà làm luật đưa ra nhiều lối tư duy khác 7 nhau để định nghĩa về trẻ em; tương ứng với mỗi CTTP, khái niệm“Trẻ em” cũng được mô tả không giống nhau và để có thể đưa ra một khái niệm về trẻ em, trước hết cần tìm hiểu những đặc điểm tâm sinh lý và xã hội, pháp lý của lứa tuổi này. Các nghiên cứu khoa học ghi nhận lứa tuổi trẻ em có các đặc điểm như sau: - Về thể chất: Phân kỳ phát triển cơ thể thì giai đoạn trẻ em trải qua nhiều thời kỳ. Thời kỳ sơ sinh (từ lúc lọt lòng đến 01 tháng tuổi); thời kỳ bú mẹ (từ 1 - 12 tháng tuổi); thời kỳ răng sữa (từ 12- 60 tháng tuổi); thời kỳ thiếu niên (từ 7- 15 tuổi); thời kỳ dậy thì (lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông).
Như vậy, trẻ em là giai đoạn chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, các cơ quan trong cơ thể đang trong quá trình xác lập, phân định và hoàn thiện về chức năng sinh lý, do đó sức đề kháng và khả năng chống chọi với các tác động bất lợi của môi trường, điều kiện sống của trẻ còn thấp hơn so với người trưởng thành. Vì vậy, những tác động xấu của môi trường lên cơ thể trẻ em thường gây nên những hậu quả bất lợi cho sự phát triển bình thường của cơ thể, thậm chí gây ra những di chứng cho giai đoạn phát triển tiếp theo. - Về tâm lý: Lứa tuổi trẻ em là thời kỳ lĩnh hội, tiếp nhận những tác động của môi trường và điều kiện sống, những kinh nghiệm xã hội, lịch sử để định hình lên những phẩm chất tâm lý nói chung và đặc điểm nhân cách nói riêng. Những phẩm chất, đặc điểm này ở trẻ được hình thành qua quá trình giáo dục ở gia đình, nhà trường và sự tác động của môi trường xã hội xung quanh trẻ.
Khi đã được định hình, chúng có ảnh hưởng rất lớn trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Nên ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của môi trường sống là nhân tố quan trọng, trực tiếp tác động tới quá trình hình thành phẩm chất tâm lý và nhân cách ở trẻ em. - Đặc điểm về xã hội - pháp lý: Vì chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, tâm lý, trẻ không có hoặc chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Nghĩa là, bằng hành vi của mình, trẻ không thể, hoặc chưa thể xác lập được một cách đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình khi tham gia các quan hệ dân sự.
Nên cần có người giám hộ đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ, đồng thời gánh chịu thay những hậu quả pháp lý do hành vi của trẻ gây nên ở lứa tuổi này, hoạt động xã hội của trẻ 8 em chủ yếu vẫn trong phạm vi nhà trường và sinh hoạt tại nơi cư trú. Trẻ thường sống phụ thuộc gia đình, tuy nhiên do các lý do khác nhau mà có cháu phải tự lập kiếm sống, không được đi học, thiếu sự chăm sóc, giáo dục và bảo vệ của gia đình và nhà trường. Từ các đặc điểm nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về trẻ em như sau:“Trẻ em là người dưới 16 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tâm lý, không có hoặc chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, thiếu khả năng tự bảo vệ nên dễ bị tội phạm xâm hại, cần có sự bảo vệ đặc biệt của pháp luật”. Theo học viên khái niệm về Trẻ em trong PLHS Việt Nam là: "Trẻ em trong pháp luật hình sự Việt Nam là người từ khi sinh ra đến dưới 16 tuổi".
Khái niệm nhân phẩm trẻ em Nhân phẩm con người là gì? Nhân phẩm là giá trị làm người của mỗi cá nhân, do vậy nhân phẩm không những phụ thuộc vào mỗi cá nhân mà nó còn phụ thuộc vào quan niệm của xã hội và của giai cấp. Ở mỗi con người chúng ta luôn có những phẩm chất nhất định, những phẩm chất này làm nên giá trị của cá nhân (con người), gọi là nhân phẩm, là toàn bộ những phẩm giá, giá trị làm người của mỗi con cá nhân. Từ những phân tích đánh giá nêu trên về Khái niệm nhân phẩm và Khái niệm trẻ em được quy định tại Điều 1 Luật trẻ em Việt Nam 2016. Học viên xin mạnh dạn đưa ra Khái niệm nhân phẩm trẻ em: "Nhân phẩm trẻ em là phẩm giá, giá trị tinh thần, lương tâm trong sáng của người dưới 16 tuổi".
Khái niệm các tội xâm phạm nhân phẩm trẻ em Tội phạm là gì? Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội và chịu các hình phạt theo quy định của BLHS - Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 [28]. Khái niệm các tội phạm XPNPTE được nghiên cứu nhằm để chỉ một nhóm hành vi tội phạm cụ thể, xâm hại quyền, lợi ích một loại đối tượng cụ thể là trẻ em. Các loại hành vi XPNPTE được quy định tại các Điều luật cụ thể như: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 BLHS); Dâm ô với người dưới 16 tuổi (Điều 146 BLHS); Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 9 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS); Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144 BLHS); Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147 BLHS) và Mua dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Vậy tội phạm XPNPTE nghĩa là người phạm tội đã thực hiện những hành vi như: cố ý cưỡng bức, lợi dụng sự kém hiểu biết trẻ em để xâm phạm đến nhân phẩm của trẻ em.
Từ những phân tích trên đây, học viên xin đưa ra khái niệm về các tội phạm XPNPTE như sau: “Các tội phạm xâm phạm nhân phẩm trẻ em là các hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến các quyền, lợi ích cấu thành nhân phẩm của trẻ em”. Tội phạm nói chung và các tội phạm XPNPTE nói riêng diễn ra trên thực tế rất đa dạng, xâm hại đến nhiều loại khách thể khác nhau, BLHS 2015 không đặt ra một chương riêng về tội phạm XPNPTE, nhưng căn cứ vào các tiêu chí khác nhau có thể phân chia các tội phạm XPNPTE thành hai nhóm như sau: Nhóm thứ nhất, các tội được quy định bằng Điều luật cụ thể: Tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi" (Điều 142); tội “Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 144); tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dùng khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi" (Điều 145); tội "Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi" (Điều 146) và tội "Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm" (Điều 147) v. Nhóm thứ hai, các tội quy định XPNPTE là tình tiết định khung tăng nặng: Tội "Mua bán người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục" (điểm b khoản 1 Điều 151); Tội“Mua dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”(điểm b, khoản 2, Điều 329). Cơ sở quy định các tội xâm phạm nhân phẩm trẻ em 1.
Cơ sở chính trị - xã hội - Chăm lo, giáo dục và BVTE luôn là một ưu tiên trong chiến lược phát triển con người ở nước ta. Đảng và Nhà nước luôn xác định chăm lo cho thế hệ trẻ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, là mục tiêu của mọi thời kỳ cách mạng và mang dấu ấn đặc thù của tư tưởng Hồ Chí Minh, Người nói: “Bồi dưỡng thế hệ cách 10 mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” và: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Tại Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959, đặc biệt là Chỉ thị số 197/CT-TW 19/3/1960 về công tác thiếu niên, nhi đồng của Đảng - lần đầu tiên công tác thiếu niên, nhi đồng được đề cập một cách toàn diện và đầy đủ trong một văn kiện của Đảng, thể hiện mối quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta đối với việc đào tạo, bồi dưỡng lớp người mới phục vụ cho sự nghiệp xây dựng XHCN.
Từ đó đến nay Đảng đã có rất nhiều chỉ thị về công tác thiếu niên, nhi đồng. Đến năm 1979 Đảng và Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em - đây chính là nền tảng pháp lý đầu tiên để BVTE.