Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước đây và các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp của các công ty, từ đó hình thành mô hình nghiên cứu và đề xuất các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trình bày quy trình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu. Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu thu được từ quá trình phân tích, xử lý số liệu và chạy hồi quy tuyến tính đa biến.
Chương 5: Ghi nhận kết luận nghiên cứu, đồng thời đưa ra các giải pháp gợi ý, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này sẽ trình bày các khái niệm về giá trị doanh nghiệp của công ty. Mặt khác, chương này cũng trình bày những nghiên cứu thực nghiệm trước đây của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam về các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp và các kết quả thu được từ các nghiên cứu đó. Từ các khái niệm và nghiên cứu thực nghiệm được trình bày, tác giả tổng hợp lại rút ra các nhân tố có thể ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp của các công ty sau đó tác giả xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu.
Khái niệm giá trị doanh nghiệp của công ty Theo Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 02, Giá trị doanh nghiệp là giá trị toàn bộ tài sản của một doanh nghiệp. Giá trị của mỗi tài sản cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp không thể tách rời nhau và cũng không thể thẩm định trên cơ sở giá trị thị trường. Giá trị doanh nghiệp phải được xem xét trên tổng thể tài sản, không phải là giá trị của từng tài sản riêng rẽ, bao gồm tài sản hữu hình và tài sản sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp. Một tài sản nếu để riêng biệt có thể không phát huy được giá trị sử dụng nhưng khi kết hợp với một tài sản khác lại có thể phát huy được giá trị sử dụng của chính tài sản đó.
Giá trị của từng tài sản riêng rẽ được xác định dựa trên phần đóng góp của tài sản đó vào hoạt động của toàn bộ doanh nghiệp nên không liên quan đến thị trường, không tính đến giá trị sử dụng tối ưu và tốt nhất của tài sản đó cũng như số tiền mà tài sản đó mang lại khi được mang ra bán. Giá trị tài sản đang trong quá trình sử dụng của doanh nghiệp có xu hướng cao hơn giá trị thị trường của tài sản khi doanh nghiệp đang kinh doanh hiệu quả, thu được lợi nhuận cao hơn so với doanh nghiệp cùng sản xuất sản phẩm tương tự; ngược lại có xu hướng thấp hơn giá trị thị trường khi doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Giá trị tài sản đang trong quá trình sử dụng cũng có xu hướng cao hơn giá trị thị trường khi doanh nghiệp có bằng sáng chế, giấy phép, hợp đồng sản xuất những c 5 sản phẩm đặc biệt, hoặc doanh nghiệp có uy tín đặc biệt, họăc các dạng tài sản thuộc sở hữu trí tuệ khác mà các doanh nghiệp cùng loại hình kinh doanh khác không có. Theo Ngô Kim Thanh và Lê Văn Tâm (2004) thì cho rằng Giá trị của một doanh nghiệp là biểu hiệu bằng tiền của tất cả các khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho các nhà đầu tư trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Giá trị doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là giá trị vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp mà là tổng giá trị của tất cả các tài sản sử dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó nhằm mang lại lợi ích cho các chủ sở hữu và các nhà cung cấp tín dụng. Như vậy, giá trị vốn chủ sở hữu chỉ là một phần của giá trị doanh nghiệp. Giá trị một doanh nghiệp có thể mang lại cho các nhà đầu tư có thể xem xét trên 2 góc độ: giá trị thanh lý vá giá trị hoạt động liên tục. Giá trị thanh lý của một doanh nghiệp là số tiền tạo ra khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động và bán tất cả các tài sản của nó, còn giá trị hoạt động liên tục là giá trị hiện tại của dòng tiền tạo ra trong tương lai từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, qua các định nghĩa trên thì giá trị doanh nghiệp có nhiều cách nhìn khác nhau. Cũng giống như các nghiên cứu khác trên thế giới thì ở Việt Nam cũng có nhiều bài nghiên cứu về giá trị của doanh nghiệp và mỗi nghiên cứu đo lường giá trị của doanh nghiệp cũng khác nhau nên dẫn đến kết quả nghiên cứu cũng khác nhau. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Cường và Nguyễn Thị Cành (2012), Nguyễn Thanh Cường (2014) thì sử dụng chỉ số ROE để tính giá trị của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Phạm Hồng Thái (2013) và nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hoa và cộng sự (2015) thì đo lường bằng chỉ số Tobin’s Q còn nghiên cứu Võ Xuân Vinh (2014) thì tính bằng vốn hóa thị trường chia cho giá trị sổ sách của doanh nghiệp.
Nhưng theo tác giả, khi đo lường giá trị doanh doanh nghiệp bằng chỉ số ROE là chưa hợp lý vì theo định nghĩa giá trị doanh nghiệp được tính bằng giá thị trường của tổng tài sản trừ đi giá trị sổ sách của tổng tài sản (Karaca và Savsar, 2012) và ROE thường được dùng để đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhiều hơn là đo lường giá trị doanh nghiệp. Còn khi đo lường bằng chỉ số Tobin’s Q cũng có hạn chế bởi vì Tobin’s Q được tính bằng cách giá thị trường của tài sản và nợ c 6 chia cho giá trị sổ sách của tài sản và nợ, tuy nhiên do dữ liệu thị trường nợ không có chính thức nên đa phần các nghiên cứu ở Việt Nam đều sử dụng nợ theo giá trị sổ sách. Vì vậy trong bài nghiên cứu này tác giả sẽ đo lường giá trị doanh nghiệp bằng chỉ số giá thị trường cổ phiếu trên giá trị sổ sách cổ phiếu theo như nghiên cứu của Kristianti (2013) và Asiri và cộng sự (2014). Theo nghiên cứu của Kristianti (2013) và Asiri và cộng sự (2014) thì Chỉ số giá thị trường trên giá trị sổ sách (Market value to Book value) là tỷ lệ được sử dụng để so sánh giá của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó.
Còn theo Bùi Kim Yến thì chỉ số giá trên giá trị sổ sách được xây dựng trên cơ sở so sánh giá thị trường của cổ phiếu với giá trị sổ sách của của phiếu. Qua đó, phản ảnh sự đánh giá của thị trường vào triển vọng tương lai của công ty. Trong bài nghiên cứu này, tác giả đo lường giá trị doanh nghiệp được bằng công thức sau: Market value to Giá thị trường cổ phiếu = Book value Giá trị sổ sách cổ phiếu 2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2.
Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam Nghiên cứu về cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp của các công ty chế biến thủy sản ở Việt Nam của Nguyễn Thanh Cường và Nguyễn Thị Cành (2012). Thông qua dữ liệu nghiên cứu của 92 công ty chế biến thủy sản ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010 và bằng phương pháp hồi quy đa biến dữ liệu bảng, tác giả đã tìm ra được rằng: có mối tương quan dương giữa tỷ số nợ và giá trị doanh nghiệp khi tỷ lệ nợ tối ưu nhỏ hơn 59,27%. Ngoài ra biến kiểm soát quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng cho thấy không ảnh hưởng đáng kể đến giá trị doanh nghiệp. Nghiên cứu của Phạm Hồng Thái (2013) về cấu trúc sở hữu và giá trị doanh nghiệp của các công ty niêm yết tại Việt Nam, bằng phương pháp hồi quy dữ liệu chéo thông qua 646 công ty trên thị trường chứng khoán TP.HCM và thị trường chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2012.
Tác giả đã tìm ra c 7 được: sở hữu nhà nước không tác động đến giá trị doanh nghiệp, trong khi đó sở hữu tư nhân và sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp ở mức ý nghĩa 5%. Sự kết hợp giữa sở hữu nhà nước và tư nhân không tác động đến giá trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả cũng thống kê được tỷ lệ sở hữu trong nước chiếm tỷ trọng rất lớn so với tỷ lệ sở hữu nước ngoài. Tỷ lệ sở hữu nhà nước hiện nay của các doanh nghiệp niêm yết bình quân chiếm khoảng 27%, cao nhất 88%.
Tỷ lệ sở hữu cao thường tập trung vào các ngành về chứng khoán, bảo hiểm, xi măng, thủy điện, khoáng sản và các công ty con của các tập đoàn nhà nước. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Cường (2014) về tác động ngưỡng của cấu trúc vốn lên giá trị doanh nghiệp của các công ty chế biến thuỷ sản ở khu vực Nam Trung Bộ của Việt Nam. Mẫu dữ liệu gồm 90 công ty chưa niêm yết được thu thập từ năm 2005 đến năm 2011. Bằng phương pháp hồi quy thống kê, tác giả đã nghiên cứu được: Kết quả thực nghiệm mạnh mẽ cho biết rằng có ba tác động ngưỡng giữa tỷ lệ nợ và giá trị doanh nghiệp khi chọn giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu cộng với nợ dài hạn là biến đại diện cho giá trị doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khi chọn ROE là biến đại diện cho giá trị doanh nghiệp thì có hai tác động ngưỡng giữa tỷ lệ nợ và giá trị doanh nghiệp. Mặt khác, kết quả cũng cho biết rằng quy mô công ty có mối tương quan dương đến giá trị doanh nghiệp còn tốc độ tăng trưởng thì không có ảnh hưởng. Một nghiên cứu khác vào năm 2014 của Võ Xuân Vinh về cấu trúc sở hữu, hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam, với dữ liệu nghiên cứu của 259 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012. Sử dụng phương pháp hồi quy cho dữ liệu bảng, tác giả đã tìm ra được kết quả: các công ty có sở hữu tổ chức càng cao thì hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp càng cao.
Năm 2015 nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hoa và cộng sự về mối quan hệ phi tuyến tính giữa giá trị doanh nghiệp và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.