Chương I, tiết VI, thủ tục phụ đái, mục thứ nhất về phương pháp bảo thủ. Điều 81 Bộ luật này quy định: Nếu trong khi làm sự kiện chánh, có một bên đương sự vì cớ gì sợ rằng những nông vụ đã hay là chưa thâu hoạch của đất bị kiện, bị tán thất, làm cho mình phải thiệt hại, thì bên đương sự ấy có thể xin Toà án đã thụ lý việc sức giao nông vụ ấy cho người đệ tam hoặc lý dịch sở tại khán thủ, sức nông vụ ấy nếu cần thâu hoạch mà bảo lưu hay phát mại.Nếu phát mại thì đem bản ký tồn tại phòng lục sự Toà án, chờ đến khi có án nhất định quyết nghĩ nông vụ ấy thuộc về ai… [15]. Như vậy, có thể thấy ngay từ thời kỳ này pháp luật đã quan tâm đến áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, coi đó là biện pháp khẩn cấp để đáp ứng yêu cầu cấp bách của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bộ luật cũng quy định cụ thể về thủ tục và hình thức giải quyết yêu cầu của đương sự cũng như mối quan hệ giữa việc áp dụng phương pháp bảo thủ với việc giải quyết toàn bộ vụ kiện.
Theo đó, việc áp dụng phương pháp bảo thủ này không ảnh hưởng đến việc giải quyết toàn bộ vụ kiện. Việc kháng cáo đối với bản án chính sẽ có hiệu lực đối với cả án xử về áp dụng phương pháp bảo thủ. Điều 84 Bộ luật này quy định: Cái án về vụ kiện phụ đái và việc chấp hành tạm thời không hề dự phán về tình lý việc kiện chánh; thuộc về tình lý việc kiện chánh, sau sẽ có án nhất định phán xử. Án nhất định ấy sẽ chỉ rõ cái phần nông vụ hoặc giá bán là của người nào.
Sự kháng cáo cái án xử về việc kiện chánh tự nhiên chiếu pháp luật, sẽ có hiệu lực tới cái án xử về việc kiện phụ đái [15]. Bộ luật này cũng có quy định về hình thức yêu cầu xin áp dụng phương pháp bảo thủ nữa là "Phê chuẩn vào đơn khẩn cấp thẩm sát". Quy định này cho phép thẩm phán giải quyết việc kiện được ghi ý kiến của mình 16 z vào ngay trong đơn yêu cầu của đương sự. Đơn của đương sự phải nói rõ về sự vụ gì hoặc xin áp dụng phương pháp gì mới có giá trị xem xét.
Và khi phê chuẩn đơn thẩm phán phải nói rõ về vụ việc, phương pháp áp dụng, người phải chấp hành (Điều 34). Ngoài ra, luật còn quy định thẩm quyền của thẩm phán thụ lý việc kiện cũng có thể được phép tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu thấy cần thiết (Điều 347). Như vậy, các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật dân sự thương sự tố tụng 1921 có giá trị tham khảo quan trọng như quy định về thời điểm yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với động sản và bất động sản có thể ngay từ khi trình đơn khởi kiện, để đảm bảo quyền lợi của đương sự; hoặc về trách nhiệm phải nộp khoản tiền để bồi thường thiệt hại nếu đương sự có yêu cầu sai. Các quy định này đã được các nhà làm luật hiện nay tiếp thu và phát triển trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2004.
Giai đoạn từ 1945 đến 1989 Sau Cách mạng Tháng tám năm 1945, ngày 10 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 90/SL giữ ta ̣m thời các luâ ̣t lê ̣ hiê ̣n hành ở Bắ c , Trung, Nam bô ̣ cho đế n khi ban hành những bô ̣ luâ ̣t mới áp dụng cho toàn quố c. Phù hợp với quy định của Sắc lệnh này , Bô ̣ luâ ̣t Giản yế u Nam kỳ năm 1883, Bô ̣ dân luâ ̣t Bắ c kỳ ban hành năm 1931, Bô ̣ dân luâ ̣t Trung kỳ ban hành năm 1936 vẫn có hiê ̣u lực thi hành ở Viê ̣t Nam sau ngày thành lập chính quyề n nhân dân. Ngày 22 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 97/SL vẫn cho phép áp du ̣ng các luâ ̣t lê ̣ cũ nhưng với điề u kiê ̣n không đươ ̣c trái với các nguyên tắc do chính Sắc lệnh này quy định. Cùng thời gia n này, Sắ c lê ̣nh số 50/SL về cải cách bô ̣ máy tư pháp và luâ ̣t tố tu ̣ng có quy đinh ̣ về phương pháp bảo thủ đă ̣c biê ̣t.
Theo đó, "trong trường hơ ̣p cấ p bách , tòa án nhân dân huyê ̣n có quyề n ấ n đinh ̣ các phương pháp bảo thủ đố i vớ i những vu ̣ 17 z kiê ̣n không thuô ̣c thẩ m quyề n của toà án nhân dân huyê ̣n " (Điề u 14). Có thể nhâ ̣n thấ y , trong thời kỳ từ 1945 đến 1954, ngoài những Sắc lệnh trên , chúng ta thấ y hầ u như không có những văn bản nào quy đinh ̣ về các thủ tục tố tụng dân sự. Sau khi kháng chiế n chố ng Pháp thắ ng lơ ̣i , Bô ̣ Tư pháp đã ra Thông tư số 19-VHH ngày 30 tháng 6 năm 1955 và Thông tư số 2140-TT-VHH/HS ngày 6 tháng 12 năm 1955; Tòa án nhân dân tối cao ra chỉ thị số 772/CT-TATC ngày 10 tháng 7 năm 1959 đình chỉ viê ̣c áp du ̣ng luâ ̣t lê ̣ cũ của đế quố c , phong kiế n mà Sắ c lê ̣nh số 97/SL quy đinh ̣ vẫn cho ta ̣m giữ. Đồng thời với viê ̣c các cơ quan Nhà nước ban hành những văn bản pháp luâ ̣t quy đinh ̣ về tổ chức các Tòa án ; Bô ̣ Tư pháp , Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành những văn bản bước đầ u hướng dẫn các Tòa án mô ̣t số thể lê ̣ về thủ tu ̣c giải quyế t các vu ̣ viê ̣c dân sự như Thông tư số 1507 - HCTP ngày 24 tháng 8 năm 1956 của Bộ Tư pháp về tư pháp xã và quyền công nhận thuận tình ly hôn ; Thông tư số 61 - HCTP ngày 9 tháng 5 năm 1957 của Bộ Tư pháp về thẩm quyề n của tòa án huyê ̣n hoă ̣c thi ̣xã trong viê ̣c công nhâ ̣n thuâ ̣n tiǹ h ly hôn và hiê ̣u lực của biên bản hòa giải thành v.
Thời kỳ này , các văn bản quy định riêng về tố tụng dân sự rất ít mà chủ yếu là hướng dẫn các thủ tục về giải quyết các việc ly hôn , chính vì thế các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tu ̣ng dân sự hầ u như không có. Mă ̣c dù vâ ̣y , giai đoa ̣n này có Công văn số 003/NCPL ngày 30 tháng 1 năm 1962 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về vấn đề thẩm quyề n , trình tự giải quyết việc ly hôn , đáng chú ý là trong công văn này có quy đinh ̣ hiê ̣u lực của quyế t đinh ̣ công nhâ ̣n thuâ ̣n tiǹ h ly hôn , nguyên tắ c và thủ tục hòa giải đối với các đương sự trong vụ án ly hôn , những biện pháp khẩn cấp tạm thời và hiệu lực của quyết định áp d ụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyề n chố ng án đố i với quyế t đinh ̣ này , quyề n lơ ̣i của người thứ ba. 18 z Ở miền Nam, năm 1972 chính quyền Sài Gòn đã ban hành Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng, trong đó có quy định khá cụ thể, chi tiết về biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thủ tục cấp thẩm được quy định từ Điều 456 tới Điều 459 Bộ luật Dân sự và Thương sự tố tụng.
Theo đó, thủ tục này sẽ được Chánh án toà sơ thẩm áp dụng trong các trường hợp khẩn cấp hay khi cần quyết định về những khó khăn liên quan đến việc thi hành một chứng khoán có hiệu lực chấp hành (Điều 456). Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp được tiến hành một cách nhanh chóng, có thể cả trong ngay lễ hay bất cứ vào ngày giờ nào (Điều 457) và Toà án không xét đến nội dung vụ tranh chấp (Điều 458). Về hiệu lực của án lệnh cấp thẩm, Bộ luật này quy định: "Án lệnh cấp thẩm được đương nhiên thi hành tạm và không cần ký quỹ tiền đảm bảo nếu án lệnh không bắt buộc đóng. Chánh án có thể truyền thi hành tạm án văn trên nguyên bản, trước hoặc sau khi trước bạ" (Điều 459).
Ngoài ra, luật cũng quy định về thời hạn kháng cáo đối với án lệnh cấp thẩm. Ngoài ra, Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng 1972 cũng có những quy định về án lệnh phê đơn (Điều 453). Theo quy định này, Chánh án với tư cách riêng của mình có quyền phê chuẩn biện pháp áp dụng vào ngay trong đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và án lệnh đó sẽ có hiệu lực thi hành. Chế định án lệnh phê đơn được áp dụng không hạn chế về thời điểm giải quyết vụ án, có thể được áp dụng trước khi "khởi tố", trong lúc tranh tụng hoặc ngoài hẳn trường hợp tranh tụng.
Nguyên đơn cũng có thể kháng cáo án lệnh trong vòng 15 ngày từ ngày nhận án lệnh. Như vậy, các quy định về chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng 1972 có nhiều điểm tương đồng với Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng Bắc Kỳ 1921. Giai đoạn từ 1990 đến 2004 Văn bản quan trọng nhất phải kể đến trong giai đoạn này đó là Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự được thông qua ngày 29-11-1989 và có hiệu lực thi hành ngày 1-1-1990. Pháp lệnh này đã dành chọn chương VIII để quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Theo quy định tại Điều 41 của Pháp lệnh này, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự hoặc bảo vệ bằng chứng, gồm 7 biện pháp khẩn cấp tạm thời sau: - Buộc một bên phải thực hiện việc cấp dưỡng - Giao người chưa thành niên cho cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức chăm nom - Trả tiền lương hoặc tiền công lao động - Kê biên tài sản đang tranh chấp để tránh việc tẩu tán - Cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp - Cho thu hoạch và bảo quản sản vật có liên quan đến việc tranh chấp - Cấm hoặc buộc thực hiện một số hành vi nhất định.