đặt vấn đề để giải quyết. - Tự mình tìm ra cách giải quyết bài toán, tự mình kiểm tra được, đánh giá được cách giải của bản thân. - Có đầu óc tự phê phán và phê phán được cách giải của người khác. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Bằng sự hiểu biết tự mình trình bày suy nghĩ, lập luận cách giải bài toán một cách chặt chẽ.
Như vậy, để rèn được tư duy độc lập cho HS thì phải tạo điều kiện để HS suy nghĩ độc lập. GV nêu câu hỏi, nêu vấn đề để HS nghiên cứu đề xuất cách giải quyết, ra kết luận. Giáo viên quan tâm chỉ đạo công tác độc lập của HS, nhất là bài tập ở nhà; khuyến khích nhận xét cách giải của bạn giúp HS biết phương pháp suy nghĩ độc lập và thực hiện hành động độc lập; tái hiện kiến thức trước khi làm bài tập vận dụng; yêu cầu HS tự ra đề của bài tập; cho giải bài tập nâng cao dần nội dung của bài tập tính toán; ra bài tập nhỏ áp dụng vào tình huống mới, gây cho HS hứng thú suy nghĩ độc lập; hướng dẫn HS sử dụng SGK và tự học; khuyến khích HS sưu tầm các hiện tượng trong thực tế và bài tập mới. GV phải có kế hoạch kiểm tra, đánh giá đúng mức suy nghĩ và hành động độc lập của HS.
Ngoài ra, để bồi dưỡng NLTH cho HS một cách toàn diện hơn, chúng ta cần phối hợp một số biện pháp cụ thể sau: * Đối với giáo viên -Tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn, năng lực nhận thức của bản thân để có kinh nghiệm thực tiễn trong việc hướng dẫn HS cách tự học. -Giảm tỉ lệ thuyết trình trên lớp của GV, dành thời gian thích đáng cho HS tự học, tự nghiên cứu, làm thí nghiệm, thảo luận, giải đáp thắc mắc. -Tăng cường biên soạn giáo án theo hướng phát triển năng lực tự lực nhận thức cho HS, đáp ứng yêu cầu về tài liệu tham khảo và trang bị đầy đủ các phương tiện dạy học cần thiết. -Tăng cường tìm kiếm và xây dựng các dạng bài tập, các hình thức ôn tập và tự ôn tập kiến thức qua nhiều kênh thông tin.
- Đổi mới PP dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS. - Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học nhằm tăng hiệu quả giờ học. * Đối với học sinh - Cần xác định thái độ học tập đúng đắn. - Bồi dưỡng cho HS phương pháp, kĩ năng tự học, tự nghiên cứu.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học và nghiêm túc thực hiện kế hoạch, thời gian biểu. - Bồi dưỡng phương pháp đọc sách, phương pháp nghe bài giảng hoặc ghi chép. - Rèn luyện cho HS khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá trong học tập. - Hướng dẫn HS tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo, tìm kiếm các trang web phục vụ cho quá trình học tập.
Bài tập hoá học 1. Khái niệm về bài tập hoá học - Theo từ điển tiếng Việt: Bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm để vận dụng những vấn đề đã học và cần giải quyết vấn đề bằng PP khoa học. - Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi lý thuyết và bài toán mà trong khi hoàn thành chúng HS vừa nắm được vừa hoàn thiện tri thức hay kĩ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hay kèm theo thực nghiệm. Ở nước ta, SGK hoặc sách tham khảo, thuật ngữ "bài tập" được dùng theo quan điểm này.
- Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của BTHH trong QTDH, người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống và lý thuyết hoạt động. Một HS lớp 1 không thể xem bài toán thuộc chương trình lớp 12 là "bài tập" và ngược lại, đối với học sinh lớp 12, bài tập thuộc chương trình lớp 1 không còn là "bài tập" nữa! Bài tập chỉ có thể là "bài tập" khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó có nhu cầu chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một "người giải". Vì vậy, bài tập và người học có mối liên hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau: Bài tập - đối tượng; Người giải - chủ thể. Bài tập là một hệ thông tin chính xác bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, đó là những điều kiện và những yêu cầu.
Người giải bao gồm hai thành tố là cách giải và phương tiện giải (cách biến đổi, thao tác trí tuệ…). Thông thường trong SGK và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, người ta hiểu bài tập là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng hoá học, hình thành khái niệm, phát triển tư duy hoá học và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com BÀI TẬP NGƯỜI GIẢI Những điều kiện Phương pháp giải Những yêu cầu Phương tiện giải Hình 1. Cấu trúc của hệ bài tập Theo chúng tôi, thuật ngữ “Bài tập hoá học” chung hơn khái niệm “bài toán hoá học” và bao hàm cả khái niệm bài toán hoá học và có thể coi BTHH là những vấn đề học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm hoá học trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hoá học.
Tác dụng của bài tập hoá học - Bài tập hoá học là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình. Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận định:" Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu học sinh có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”. - Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc. - Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất.
- Rèn luyện kĩ năng hóa học cho HS như: Kĩ năng viết và cân bằng phương trình hoá học, kĩ năng tính toán theo công thức và phương trình hoá học, kĩ năng thực hành như cân, đo, nung sấy, đun nóng, lọc, nhận biết hoá chất,… - Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS - Bài tập hoá học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật,.) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững. Điều này thể hiện rõ khi HS làm bài tập thực nghiệm định lượng. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Bài tập hoá học phát huy tính tính cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp lý. - Bài tập hoá học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng của HS một cách hiệu quả.
- Bài tập hoá học có tác dụng giáo dục đạo đức tác phong, rèn luyện tính kiên trì, trung thực, chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học (có tổ chức, kế hoạch,…), nâng cao hứng thú học tập bộ môn. Điều này thể hiện rõ khi giải bài tập thực nghiệm. Bản thân một bài tập hoá học chưa có tác dụng gì cả: Không phải một bài tập hoá học "hay" thì luôn có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là "người sử dụng nó". Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh của bài toán, để HS tự mình tìm ra cách giải, lúc đó bài tập hoá học thật sự có ý nghĩa.
Phân loại bài tập hoá học Có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên các cơ sở khác nhau: + Dựa vào mức độ kiến thức (cơ bản, nâng cao). + Dựa vào tính chất bài tập (định tính, định lượng). + Dựa vào hình thái hoạt động của HS (lý thuyết, thực nghiệm). + Dựa vào mục đích dạy học (ôn tập, luyện tập, kiểm tra) + Dựa vào cách tiến hành trả lời (trắc nghiệm khách quan, tự luận) + Dưạ vào kĩ năng, phương pháp giải bài tập (lập công thức, hỗn hợp, tổng hợp chất, xác định cấu trúc,.) + Dựa vào loại kiến thức trong chương trình (dung dịch, điện hoá, động học, nhiệt hoá học, phản ứng ôxi hoá - khử,…) + Dựa vào năng lực của HS (năng lực phát hiện - giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng vào thực tiễn, năng lực sáng tạo…) 1.
Tiến trình giải một bài tập hoá học Tiến trình khái quát giải một BTHH gồm các giai đoạn và yêu cầu khi giải bất kì bài tập nào, còn gọi là các bước chung hay là dàn ý. gồm có 4 bước sau: Bước 1: Nghiên cứu đề bài - Đọc kĩ đề bài, tìm hiểu điều kiện đầu bài và yêu cầu của bài ra. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tóm tắt đầu bài theo quy ước của bản thân theo kí hiệu quen dùng. - Quy đổi, thống nhất đơn vị theo cùng hệ thống.
Bước 2: Xác lập mối quan hệ - Mô tả hiện tượng, quá trình hoá học có thể xảy ra trong bài toán. - Xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố đã cho và cần tìm. - Xác lập các quy tắc và định luật cần áp dụng cần thiết cho bài toán. Bước 3: Thực hiện tiến trình giải - Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá để rút ra kết luận cụ thể.
- Từ các mối quan hệ trên xác lập bảng các phương trình tiếp tục luận giải, tính toán biểu diễn các đại lượng cần tìm qua các đại lượng đã cho. - Xác định kết quả với độ chính xác cho phép. Bước 4: Kiểm tra xác nhận kết quả Để xác nhận được kết quả vừa tìm được cần kiểm tra lại một số phương án sau: - Kiểm tra lại đã xét hết các trường hợp chưa, trả lời hết câu hỏi chưa. - Kiểm tra lại các phép tính đã chính xác chưa, thứ nguyên đúng chưa.
- Kiểm tra lại kết quả vừa giải có phù hợp với thực nghiệm không. - Thử giải bằng phương án khác có đúng không.