CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Bồi dưỡng học sinh giỏi là vấn đề quan trọng được các trường phổ thông và các giáo viên đặc biệt quan tâm. Hiện nay đã có một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở trường trung học phổ thông. Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu theo các hướng sau: 1.
Theo hướng nghiên cứu về việc xây dựng và sử dụng hệ thống lí thuyết và bài tập Hóa học trong bồi dưỡng học sinh giỏi - Phan Thị Hạnh. Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập nâng cao hóa học vô cơ phần kim loại dùng cho học sinh khá giỏi ở bậc THPT. 2005; - Nguyễn Thị Lan Hương. Hệ thống lý thuyết và xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại dùng cho BDHSG và chuyên hoá học THPT.
2007; - Nguyễn Cửu Phúc. Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần kim loại lớp 12 THPT chương trình nâng cao. 2010; - Trần Thị Thùy Dung. Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập BDHSG phần kim loại lớp 12 THPT chuyên.
Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần kim loại cho BDHSG THPT. 2012; - Lại Thị Quỳnh Diệp. Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần kim loại để BDHSG hóa THPT lớp 12 – Nâng cao. Theo hướng nghiên cứu về phát triển năng lực nhận thức trong bồi dưỡng học sinh giỏi - Vũ Anh Tuấn.
Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm rèn luyện tư duy trong việc BDHSG hóa học ở THPT”. Xây dựng hệ thống bài tập hoá học vô cơ nhằm rèn luyện tư duy trong BDHSG ở THPT. 2007; - Đào Thị Hồng. Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng bài tập hóa học vô cơ nhằm phát triển năng lực học sinh trong BDHSG ở trường THPT.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường phổ thông nghiên cứu về vấn đề lí thuyết và bài tập kim loại lớp 12 và chủ yếu dành cho học sinh chuyên và nội dung nghiên cứu còn quá rộng và đa số các đề tài đều xây dựng trên cơ sở đặc thù của từng địa phương hoặc còn chung chung nên chưa phù hợp với đối tượng thi HSG ở tỉnh Quảng Ninh và đặc biệt là đối tượng học sinh không chuyên, học sinh ngoài công lập vì vậy tôi lựa chọn đề tài “ Bồi dưỡng học sinh giỏi thông qua dạy học phần Kim loại, Hóa học 12” dành cho HS THPT tỉnh Quảng Ninh nói chung và dùng để BDHSG tại trường THPT Văn Lang nói riêng. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở trường THPT 1. Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi [9], [37] Tài năng là vốn quý của nước nhà. Tài năng sẽ có và đến nhờ năng khiếu song có năng khiếu cũng không trở thành tài năng được nếu không có quá trình giáo dục, bồi dưỡng một cách khoa học.
Đồng chí Lê Khả Phiêu nguyên Bí thư trung ương Đảng đã từng nói: "Về nhân tài một mặt phải tìm được những cách thích hợp để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, đồng thời cũng cần lưu ý là nhân tài sẽ có điều kiện xuất hiện trên một nền dân trí rộng và trên cơ sở việc tổ chức đào tạo nhân lực tốt và nhân tài là người có trí tuệ sắc bén và những người có bàn tay vàng có những kỹ năng đặc biệt". [9] Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định " Phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong các nhân tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ GV và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt". [9] Nhiệm vụ quan trọng của ngành Giáo dục là phải phát hiện những học sinh có tư chất thông minh, có năng khiếu để bồi dưỡng thành nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế.
Quá trình phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi các môn học ở bậc THPT là một quá trình mang tính khoa học nghiêm túc có tính chiến lược lâu dài trong suốt quá 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình dạy học. Đặc biệt đối với môn Hóa học là môn học mới chỉ được nghiên cứu từ lớp 8 nên chỉ có quá trình này mới cung cấp được tương đối đầy đủ các kiến thức cần thiết cho học sinh và phát hiện chính xác khả năng học tập của các em, từ đó mới có thể tiếp tục đào tạo trở thành nhân tài cho đất nước. Hoạt động nhận thức và tư duy của học HS trong quá trình dạy học 1.1 Khái niệm nhận thức và tư duy [4], [10] - Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm, ý chí), là tiền đề của hai mặt kia đồng thời có quan hệ chặt chẽ với chúng và với các hiện tượng tâm lý khác. Hoạt động nhận thức bao hai giai đoạn lớn: nhận thức cảm tính (gồm cảm giác, tri giác) và nhận thức lý tính (gồm tư duy, tưởng tượng).
- Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. Vậy tư duy là một quá trình tìm kiếm và phát hiện cái mới về chất một cách độc lập. Nét nổi bật của tư duy là tính "có vấn đề" tức là trong hoàn cảnh có vấn đề, tư duy được nảy sinh. Những phẩm chất cơ bản của tư duy gồm: + Tính định hướng, nhanh chóng xác định đối tượng cần lĩnh hội, mục đích phải đạt và những con đường tối ưu để đạt được mục đích ấy.
+ Bề rộng: Thể hiện khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác. + Độ sâu: Thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng. + Tính linh hoạt: Thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức hoạt động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo. + Tính mềm dẻo: Thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo hướng xuôi và ngược chiều.
+ Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất được cách giải quyết và tự giải quyết vấn đề. + Tính khái quát: Thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra mô hình khái quát, từ đó vận dụng để giải quyết các nhiệm vụ cùng loại. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, quá trình tư duy là khâu cơ bản của quá trình nhận thức. Nắm bắt được quá trình này, người giáo viên sẽ hướng dẫn tư duy khoa học cho học sinh trong suốt quá trình dạy và học môn Hoá học ở trường phổ thông.
Tư duy sáng tạo và những phẩm chất của tư duy sáng tạo [22] Tư duy sáng tạo là những hoạt động tư duy có sáng kiến, tư duy sáng tạo là mức độ cao của tư duy. Tư duy sáng tạo có những phẩm chất sau : - Tính đổi mới: Biểu hiện ở tính khác lạ, đổi mới trong tư duy, sự độc lập suy nghĩ, dám tìm ra cái mới. - Tính khuếch tán: Biểu hiện ở khả năng hiểu rộng những vấn đề nghiên cứu ở những cấu trúc khác nhau. - Tính độc đáo: Thường không dập khuôn theo những quy tắc hoặc tri thức thông thường, biết giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, ứng biến.
Những hình thức cơ bản của tư duy [4], [21], [22] a. Khái niệm: Khái niệm phản ánh những thuộc tính chung, bản chất của sự vật – hiện tượng, quá trình hiện thực. Là kết quả của sự tổng hợp, khái quát biện chứng các tài liệu kinh nghiệm, các khái niệm được hình thành từ trong quá trình lâu dài của con người nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Phán đoán: Phán đoán phản ánh những mối liên hệ giữa các sự vật – hiện tượng và quá trình hiện thực.
Trong phán đoán bao giờ cũng thể hiện một ý nghĩa nhằm khẳng định hay phủ định hiện thực. Phán đoán có tính đúng hoặc sai tuỳ thuộc vào điều khẳng định hay phủ định có thực hay không ở đối tượng được phán đoán. Suy lý: Suy lý là hình thức suy nghĩ liên hệ các phán đoán lại với nhau để tạo thành một phán đoán mới. Nhìn chung, suy lý gồm hai bộ phận: các phán đoán có trước (gọi là tiền đề) và các phán đoán có sau (gọi là kết luận).
Suy lý được chia thành ba loại: suy lý diễn dịch, suy lý quy nạp và loại suy. - Suy lý diễn dịch: Là đi từ nguyên lý chung, phổ biến đến cái riêng lẻ, cá biệt. - Suy lý quy nạp: Là suy lý ngược lại của suy lý diễn dịch (nhưng hai loại suy lý này gắn bó mật thiết với nhau). 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Loại suy: Là suy lý đi từ một số thuộc tính giống nhau của hai đối tượng để rút ra kết luận về những thuộc tính giống nhau khác của hai đối tượng đó.
Đối với phát triển năng lực nhận thức của học sinh, khâu trung tâm là phát triển năng lực tư duy. Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi hóa học 1. Định nghĩa về năng lực [38] Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay các nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm, cũng như sự sẵn sàng hành động. Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi hóa học [24], [38] - Theo luật Hoa Kỳ định nghĩa: “HSG đó là những HS chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao và có khả năng sáng tạo thể hiện ở động cơ học tập mãnh liệt và đạt kết quả xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết hoặc khoa học; là đối tượng cần có một sự giáo dục đặc biệt để đạt được trình độ giáo dục tương ứng với năng lực của con người đó”.