CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ ĐẢM BẢO QUYỀN TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP 1. Quyền tố giác về tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp Trong những năm qua, tình hình vi phạm, tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp ngày càng diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Mặt khác, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự có hiệu lực năm 2018 và các văn bản hướng dẫn luật mới ban hành đã thay đổi, bổ sung nhiều quy định để nâng cao hơn các cơ chế bảo đảm quyền tố giác về tội phạm cho công dân. Đảm bảo tạo điều kiện tốt nhất cho người dân được thực hiện quyền tố giác về tội phạm, nhất là tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp là loại tội phạm đặc thù với chủ thể là những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan tư pháp (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Cơ quan Thi hành án dân sự, Cơ quan Thi hành án hình sự, các Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra), đều là những người có trình độ, khả năng, điều kiện che giấu tội phạm tinh vi và khó phát hiện hơn tội phạm thông thường, trong khi người dân lại có tâm lý lo sợ, e ngại khi tố cáo các hành vi của những chủ thể trong các cơ quan tư pháp vì tâm lý ngại va chạm hoặc sợ bị trả thù.
Do đó, việc nâng cao trách nhiệm bảo đảm quyền cho công dân trong việc tố giác các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp và tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp là hết sức cần thiết. Tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp Theo quy định tại Điều 367 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và thi hành án”. Khái niệm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 đã 10 rút gọn so với khái niệm của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định tại Điều 292: “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của tổ chức, công dân.”, tuy nhiên khai niệm này lại bao quát và đầy đủ hơn, góp phần xử lý những hành vi phạm tội tương tự xảy ra trong các cơ quan khác ngoài cơ quan điều tra chuyên trách, có sự mở rộng thêm phạm vi các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt động tư pháp được pháp luật hình sự bảo vệ, bảo đảm đường lối xử lý loại tội phạm này được chính xác và toàn diện. Theo đó, về khách thể của tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp là các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động tố tụng và thi hành án, nhằm bảo đảm cho các cơ quan này thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của minh theo quy định của pháp luật.
Các tội phạm này không chỉ xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, uy tín, chất lượng, hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp mà còn xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, các tổ chức, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Về mặt khách quan của tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp được thể hiện ở các hành vi xâm phạm trực tiếp đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng và thi hành án. Phần lớn các tội phạm này được thực hiện dưới dạng hành động (dùng nhục hình; bức cung; mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác cung cấp tài liệu sai sự thật; khai báo gian dối; trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử; ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật; làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc…). Một số tội phạm được thực hiện dưới dạng không hành động (không chấp hành án; không thi hành án; thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn; không tố giác tội phạm; không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do…).
Phần lớn các tội phạm có cấu thành hình thức (18/24 tội quy định tại các Điều 368, 369, 370, 373, 374, 375, 378, 380, 382, 383, 384, 385, 386, 387, 388, 11 339, 390, 391). Đối với các trường hợp này, tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình. Đối với một số tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp có cấu thành vật chất (4/24 tội quy định tại các Điều 371,372, 376, 379, 381), tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm xảy ra hậu quả nghiêm trọng. Riêng Điều 377 BLHS năm 2015 được xây dựng theo cấu thành tội phạm hỗn hợp, nghĩa là các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm vừa có yếu tố của cấu thành tội phạm hình thức, vừa có yếu tố của cấu thành tội phạm vật chất.
Lúc này, tùy từng trường hợp mà tội phạm được xác định là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội (điểm a, b, c khoản 1 Điều 377 BLHS) hoặc từ thời điểm xảy ra hậu quả (điểm đ khoản 1 Điều 377 BLHS). Chủ thể của tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp có chủ thể đặc biệt, là những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan tiến hành tố tụng, như: - Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp, Điều tra viên, Cán bộ điều tra; - Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND các cấp, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; - Chánh án, Phó Chánh án Tòa án các cấp, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên; Ngoài ra chủ thể của tội phạm này có thể là: - Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan thi hành các cấp, Chấp hành viên; - Những người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ở các cơ quan của Bộ đội Biên phòng, Hải quan; Kiểm lâm; lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư; các cơ quan của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; - Những người tham gia tố tụng (như bị can, bị cáo, người bị tạm giữ, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, bào chữa viên nhân dân…). 12 Trong một số trường hợp (như tội che giấu tội phạm – Điều 133; tội không tố giác tội phạm – Điều 314…), chủ thể của tội phạm có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự. Về mặt chủ quan của tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, hầu hết được thực hiện bởi lỗi cố ý, trừ tội thiếu trách nhiệm để người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn (Điều 376).
Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn thực hiện và mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Động cơ, mục đích phạm tội rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.850-858] Với chủ trương xây dựng nền công tố mạnh, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra; Viện kiểm sát nhân dân ngày càng có vai trò quan trọng, quyết định trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội bằng nhiều biện pháp như: Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự và trực tiếp điều tra một số loại tội phạm, trong đó, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao là một trong những bảo đảm để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát, chống oan sai, chống bỏ lọt tội phạm, góp phần bảo vệ trật tự pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Có thể nói, hoạt động điều tra là một quyền năng quan trọng và được ví như “quyền công tố nối dài” của Viện kiểm sát; không thể bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nếu không có hoạt động điều tra trực tiếp. Trước yêu cầu của cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế và đấu tranh phòng, chống các tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp nói riêng thì Cơ quan điều tra VKSND tối cao ngày càng phải được củng cố, tăng cường để bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát và đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
13 Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là một trong ba hệ thống của Cơ quan điều tra nói chung nhưng có đối tượng điều tra (thẩm quyền và phạm vi thẩm quyền) riêng biệt so với các Cơ quan điều tra khác và trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành có thể khái quát mang tính quy nạp về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân như sau: Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là một trong hệ thống Cơ quan điều tra của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, được tiến hành các hoạt động điều tra theo qui định của pháp luật nhằm thu thập, kiểm tra và đánh giá các chứng cứ chứng minh sự kiện phạm tội đối với các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp. Quyền tố giác về tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp - Tố giác về tội phạm: Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, tố giác về tội phạm là một trong những căn cứ để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án. Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố như sau: “1.