Chương 1. Lý luận chung về bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật. Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam. Phương hướng và giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA TRẺ EM KHUYẾT TẬT 1. Trẻ em khuyết tật 1. Khái niệm trẻ em Từ lâu, trẻ em vốn được coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thương và được nhà nước, cá nhân, các tổ chức xã hội quan tâm bảo vệ. Do đó, việc xác định thế nào được gọi là trẻ em chính là cơ sở để thực hiện và phát huy sự quan tâm đó.
Trong Công ước về quyền trẻ em 1989 (Convention on the Rights of the Child – CRC) - văn kiện quốc tế cơ bản, toàn diện nhất về trẻ em tính đến thời điểm này đã định nghĩa “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều 1). Và để làm rõ khái niệm trẻ em, ngay trong lời nói đầu của Công ước đã nêu rõ “trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”. Theo đó, trẻ em là những người đảm bảo đầy đủ các điều kiện sau: Một là, phải là người còn non nớt về thể chất và trí tuệ; Hai là, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt; Ba là người từ 0 đến dưới 18 tuổi. Do mỗi nước có quan niệm không giống nhau về trẻ em, nên độ tuổi được xác định là trẻ em cũng khác nhau, và Công ước về quyền trẻ em đã quy định vấn đề này theo hướng mở.
Tức là, tuổi 18 được coi là mức tiêu chuẩn nhưng không phải cố định, bắt buộc, mà cho phép mỗi quốc gia tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của nước mình, có thể quy định độ tuổi trẻ em sớm hơn (dưới 18 tuổi). Tuy nhiên, việc quy định mang tính chất mềm dẻo này, có thể 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com làm số lượng trẻ em được bảo vệ theo Công ước giảm đi ở một số nước, nhưng lại có tác dụng tích cực trong việc tăng lên về số lượng các quốc gia chấp nhận tham gia công ước. Điều đó kéo theo việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em theo quy định của điều ước quốc tế này trở nên phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới. Liên quan đến khái niệm Trẻ em, Liên hợp quốc còn dùng khái niệm “người chưa thành niên”.
Theo quy tắc Bắc Kinh (Những quy tắc tối thiểu, phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên ngày 20/11/1985) nêu rõ “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”. Họ là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ bị hạn chế, thiếu những điều kiện và bản lĩnh tự lập, khả năng kiềm chế kém, dễ bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động phiêu lưu mạo hiểm. Như vậy, việc sử dụng những khái niệm này có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý. Liên hợp quốc đặt các em trong đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia với mục đích bảo vệ quyền trẻ em và người chưa thành niên khi phạm pháp.
Kêu gọi các nước thành viên tham gia CRC phải quan tâm đầy đủ đến các biện pháp; tích cực, huy động các nguồn lực có thể để giúp đỡ trẻ em và người chưa thành niên nhằm giảm sự can thiệp của pháp luật và xử lý người chưa thành niên phạm pháp một cách công bằng, nhân đạo và hiệu quả. Ở Việt Nam cũng không có một định nghĩa chung về trẻ em. Theo Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì trẻ em là “công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Như vậy, độ tuổi được coi là trẻ em trong pháp luật nước ta thấp hơn so với quy định trong Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
Tuy nhiên, đây không bị coi là trái với CRC vì Điều 1 Công ước này cho phép các quốc gia thành viên quy định độ tuổi được coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi. Bên cạnh khái niệm trẻ em, cũng giống như pháp luật quốc tế, pháp luật 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt nam còn có khái niệm “người chưa thành niên” (là những người dưới 18 tuổi theo quy định tại Điều 18 Bộ luật Dân sự năm 2005); “lao động chưa thành niên” (là những người lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi theo quy định tại Điều 119 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007), và “người chưa thành niên phạm tội” (là những người phạm tội khi còn dưới 18 tuổi, theo các quy định có liên quan trong Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009). Ngoài ra, liên quan đến trẻ em, theo Luật giáo dục năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 lại quy định người đang được nuôi dưỡng, đào tạo trong hệ thống giáo dục mầm non “từ ba tháng đến sáu tuổi” được coi là trẻ em (Điều 21), còn người từ 6 tuổi đến 18 tuổi gọi là học sinh. Mặc dù không có một điều khoản thống nhất quy định rõ ràng về độ tuổi trẻ em, nhưng về cơ bản, các quy định xung quanh khái niệm này đều tương thích với điều khoản ghi nhận tại Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989.
Do đó, có thể đưa ra định nghĩa chung nhất về trẻ em ở Việt Nam đó là: Trẻ em là những người dưới 18 tuổi, vẫn còn non nớt về thể chất và trí tuệ, do đó cần sự bảo vệ của cơ quan có thẩm quyền. Đây là cách định nghĩa phù hợp với tinh thần của hệ thống pháp luật trong nước, đồng thời không mâu thuẫn với quy định của pháp luật quốc tế. Việc xác định thống nhất khái niệm về trẻ em có ý nghĩa khá quan trọng. Bởi nó sẽ là cơ sở để làm rõ các khái niệm có liên quan đồng thời tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này.
Khái niệm trẻ em khuyết tật Trên phạm vi quốc tế lẫn khu vực hiện nay, chưa có một khái niệm cụ thể về trẻ em khuyết tật. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Vì vậy, để hiểu chính xác khái niệm trẻ em khuyết tật, trước hết, cần đi tìm hiểu khái niệm người khuyết tật. Trong một thời kỳ dài, người khuyết tật được coi là đối tượng phúc lợi 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xã hội, việc bảo vệ hỗ trợ họ chủ yếu dựa trên tình thương và lòng nhân đạo chứ không được nhìn nhận dưới tư cách chủ thể có quyền như công dân bình thường.
Những văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến quyền con người được các nước phê chuẩn từ những năm 1940 đến năm 1960 như: Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền 1948 (The Universal Declaration of Human Rights - UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 (International Convenant on Civil and Political Rights – ICCPR); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1996 (International Convenant on Economic, Social and Cultural Rights – ICCSCR)… cũng không trực tiếp đề cập đến người khuyết tật. Đến những năm 70, 80 của thế kỷ XX, dưới sự đấu tranh mạnh mẽ của người khuyết tật và các hiệp hội của họ trên thế giới, nhận thức về người khuyết tật là đối tượng của phúc lợi xã hội mới dần dần được thay thế thông qua việc coi trọng năng lực của nhóm đối tượng này và coi vấn đề khuyết tật là vấn đề bình thường trong xã hội. Sự chuyển biến về nhận thức đã dẫn đến thay đổi cả cách gọi tên của nhóm này. Thay cho việc dùng từ Những người tàn tật (Disable persons) có hàm ý miệt thị và hạ thấp, hiện nay, nhóm xã hội này được gọi một cách tôn trọng là Những người khuyết tật (Persons with Disabilities).
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi nhận thức đó diễn ra trong khoảng thời gian tương đối dài và không phải đã hết sự khác biệt. Lịch sử phát triển của vấn đề này cho thấy đã có các quan điểm khác nhau về khái niệm người khuyết tật. Hiện có hai quan điểm chính: quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hội. [25] - Quan điểm khuyết tật cá nhân hay Quan điểm khuyết tật dưới góc độ y tế: Cho rằng khuyết tật là do chính bản thân con người đó, không liên quan quá nhiều đến các yếu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thể xung quanh người khuyết tật.
Quan niệm này nhìn nhận người khuyết tật như những người 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có vấn đề về thể chất, cần được chữa trị bằng các phương pháp khoa học như: thuốc điều trị hoặc công nghệ trị liệu. Lý giải rõ thêm cho quan điểm này, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã phân ra ba loại mức độ suy giảm đó là: Khiếm khuyết (impairment), Khuyết tật (disability), và Tàn tật (Handicap). Trong đó: Khiếm khuyết chỉ tình trạng bị mất hoặc tình trạng bất bình thường của một hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý. Khuyết tật chỉ sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết.
Còn Tàn tật để chỉ tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ. Như vậy, quan điểm khuyết tật cá nhân hay quan điểm khuyết tật y tế nhìn nhận vấn đề khuyết tật là hạn chế ở chính bản thân họ. Mô hình này chú trọng vào việc trị liệu cá nhân chứ không xem trọng việc trị liệu xã hội. Khi bị khuyết tật, chính bản thân những người này cần phải thay đổi chứ không phải xã hội hay môi trường xung quanh họ cần phải thay đổi.
- Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội: cho rằng, nhiều người bị khiếm khuyết ở các cách khác nhau nhưng xã hội đã biến họ thành khuyết tật; con người bị khiếm khuyết nhưng xã hội bị khuyết tật. Nói cách khác, mô hình này coi xã hội là vấn đề cần giải quyết, và giải pháp là phải thay đổi toàn bộ xã hội.