Chương 1 LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƢỜI VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI CỦA NGƢỜI BỊ HẠN CHẾ QUYỀN TỰ DO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Nhận thức về quyền con ngƣời của ngƣời bị hạn chế quyền tự do trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm và phân loại quyền con người 1. Khái niệm quyền con người Quan niệm về quyền con người, trong lịch sử chính trị- tư tưởng của nhân loại, thuật ngữ QCN (nhân quyền) thường được sử dụng, nhưng cho đến nay chưa có quan niệm thống nhất.
Ngay từ thời cổ đại đã có sự bàn luận về các quyền. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVII, XVIII, quyền con người mới được các nhà tư tưởng bàn đến như một học thuyết. Khi bàn đến QCN, Jaeque Mourgeon trong cuốn "Các QCN" đã cho rằng: QCN trước hết được hiểu là những đặc quyền tự nhiên mà con người có. Đó là khả năng hành động có ý thức, trách nhiệm nhất là tự bảo vệ.
Nhưng bản thân đặc quyền (quyền tự nhiên) chưa phải là QCN. Mà để đạt đến cái gọi là "quyền" thì phải có yếu tố thứ hai là pháp luật. Chỉ khi được pháp luật ghi nhận thì các đặc quyền của cá nhân mới trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật và như vậy mới trở thành QCN. Trên cơ sở quan niệm đúng đắn và khoa học về con người, C.
Mác đã xác định con người là một thực thể thống nhất, một “sinh vật – xã hội”. Do đó, QCN là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” (như một đặc quyền vốn có và chỉ con người mới có) và “quyền xã hội” – sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chính các mối quan hệ xã hội. Vì vậy trong điều kiện ngày nay, việc đưa ra khái niệm đúng đắn về QCN phải giải quyết được các quan hệ giữa cá nhân với xã hội, giữa tính nhân loại với tính giai cấp, giữa các giá trị đạo đức với pháp luật và quyền lực, giữa quan hệ quốc tế với lợi ích quốc gia, giữa khả năng và nhu cầu tự nhiên với những nỗ lực chủ quan. 7 z Năm 1776, lần đầu tiên các QCN được ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc".
Năm 1791, trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp, QCN tiếp tục được xác định: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải được tự do bình đẳng về quyền lợi". Từ đó các tiêu chí về QCN từng bước được các quốc gia thừa nhận và quy định trong pháp luật của nước mình. Về khái niệm QCN, ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN (Office of High Commissioner for Human Rights – OHCHR) thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu. Theo định nghĩa này, QCN là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người.
Bên cạnh định nghĩa kể trên, một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn, theo đó, QCN là những sự được phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội.; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người. Định nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên. Trong ý nghĩa ban đầu, thuyết pháp luật tự nhiên ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tự do của con người; khẳng định QCN là tự nhiên, vốn có, nhằm đối lập, phủ nhận quan niệm QCN tự do vương quyền và thần quyền ban phát, tặng cho quyền tự nhiên. Ở nước ta, vấn đề QCN đã được nghiên cứu và phản ánh một cách phong phú và đa dạng thể hiện trong các tài liệu, văn kiện của Đảng, Nhà nước và các văn bản pháp luật.
Theo Từ điển tiếng Việt 1992 thì quyền là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng: "QCN là các quyền tất yếu mà con người phải được hưởng và các quốc gia phải tôn trọng". 8 z Như vậy, QCN là những điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho mỗi con người được hưởng. QCN được đặt trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với xã hội và được giải quyết trên cơ sở đảm bảo lợi ích xã hội.
Bảo đảm QCN là bảo đảm dân chủ, bảo đảm hiệu quả, hiệu lực nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đây là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới. Việc bảo đảm các QCN, quyền công dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng. trong đó nhà nước bảo đảm về mặt pháp lý, các cơ quan tố tụng bảo đảm thực thi pháp luật có hiệu quả là vấn đề cực kỳ quan trọng.
Dù định nghĩa các chuyên gia, cơ quan nghiên cứu nêu ra không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, QCN thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Phân loại quyền con người Trong khoa học pháp lý, căn cứ vào nội dung của nó, QCN được chia thành các nhóm cơ bản sau đây: - Các quyền chính trị bao gồm quyền tham gia quản lý Nhà nước và thảo luận các vấn đề chung của cả nước, quyền bầu cử và ứng cử, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, quyền lập hội, quyền được thông tin, quyền biểu tình, quyền bình đẳng nam nữ, quyền khiếu nại, tố cáo v.v…; - Các quyền dân sự (các quyền tự do cá nhân) bao gồm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về chỗ ở, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, quyền được bảo đảm an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín, quyền tự do đi lại và cư trú v.v…; - Các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội bao gồm quyền học tập, lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền phát minh, sáng chế, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được bảo hộ về hôn nhân, gia đình, các quyền của các đối tượng đặc biệt như thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người già, trẻ em, người tàn tật không nơi nương tựa v.v… 9 z Ngoài ra, căn cứ vào mức độ điều chỉnh của pháp luật, QCN được phân thành các quyền cơ bản và các quyền pháp lý khác: - Quyền cơ bản của công dân (hay quyền hiến định) là các quyền quan trọng nhất, cơ bản nhất thể hiện mối quan hệ cơ bản nhất giữa Nhà nước và công dân được ghi nhận trong Hiến pháp, làm cơ sở cho việc cụ thể hóa các quyền pháp lý khác. Trong Hiến pháp nước ta năm 1992, các quyền cơ bản của công dân được quy định tại Chương V bao gồm các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; - Quyền pháp lý khác là sự cụ thể hóa các quyền cơ bản của công dân trong các lĩnh vực pháp lý khác nhau được ghi nhận trong các văn bản pháp luật cụ thể. Ví dụ: QCN trong lĩnh vực hình sự, QCN trong lĩnh vực hành chính, QCN trong lĩnh vực lao động… Các QCN cụ thể này được cụ thể hóa trên cơ sở các quyền cơ bản và không trái với các quyền cơ bản được Hiến pháp quy định, thể hiện sự nhất quán của Nhà nước ta trong ghi nhận và bảo đảm QCN, quyền công dân.
QCN và việc bảo đảm các QCN trong các lĩnh vực pháp lý cụ thể được quy định phụ thuộc vào tính chất của ngành luật và chức năng của Nhà nước trong lĩnh vực đó. Ví dụ: QCN trong lĩnh vực TTHS được quy định trên cơ sở cân nhắc rằng hoạt động TTHS gắn liền với vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất là tội phạm và chức năng của Nhà nước là phát hiện nhanh chóng, kịp thời và xử lý công minh người phạm tội; nhưng đồng thời hoạt động TTHS cũng liên quan rất nhiều tới các quyền cơ bản của con người v.v… Một điều đáng lưu ý trong nghiên cứu việc bảo đảm QCN là các QCN liên quan rất chặt chẽ với nhau, chúng tác động lên nhau rất lớn. Đặc biệt đóng vai trò quan trọng là các quyền cơ bản được Hiến pháp quy định; chúng có tác động quyết định đến việc bảo đảm thực hiện các QCN khác. Mất QCN là mất nhiều quyền chính trị khác như quyền bầu cử, quyền lập hội; quyền tự do thân thể bị xâm phạm có thể ảnh hưởng đến quyền tự do đi lại, quyền lao động, quyền học tập v.
Khái niệm quyền tự do và người bị hạn chế quyền tự do trong tố tụng hình sự Việt Nam 1.Khái niệm quyền tự do Tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, 10 z người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật. Hay nói cách khác, TTHS là hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Hoạt động TTHS là một quá trình nhằm giải quyết vụ án, trong đó có nhiều giai đoạn khác nhau phù hợp với tính chất, đặc điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng. Quan điểm truyền thống ở nước ta cũng như ghi nhận của BLTTHS 2003 phân chia quá trình đó thành bốn giai đoạn tương ứng với chức năng của các cơ quan tiền hành tố tụng: khởi tố vụ án hình sự; điều tra và truy tố; xét xử; thi hành bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.
Nhưng trong phạm vi nghiên cứu này, tác giải không đưa thi hành ánh là một giai đoạn trong các giai đoạn của TTHS.