Chương 1 CƠ SO KHOA HỌC QUAN LÝ NHÀ NƯỚC DOI VỚI HOẠT ĐỘNG CUA QUAN LÝ VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN VA PHONG VIÊN THUONG TRU 1. Khái niệm “văn phòng dai diện cơ quan báo chi” - Khái niệm “cơ quan báo chí” Theo cách hiểu của tác gia dua trên định nghĩa của những người trong ngành, cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của Đảng, chính quyền, của các tổ chức đoàn thé xã hội lập ra và tôn trọng chấp hành pháp luật. Nó có nhiệm vụ thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích mà tô chức đó đặt ra. Theo lập luận của PGS - TS Dinh Văn Hường, cơ quan báo chí hay tòa soạn báo chí là nơi sản xuất và phát hành báo chí.
Cơ quan báo chí trước đây là tòa soạn và mang hai ý nghĩa chính. Thứ nhất, tòa soạn là biên tập, tu chỉnh, gọt dia. Như vay, có thể hiểu rằng, tòa soạn dùng dé làm công tác biên tập, chỉnh sửa bài vở, là sự sắp đặt, sắp xếp, nề nếp, trật tự, quy cũ. Nghĩa thứ hai dé chỉ các cơ quan thông tin đại chúng như báo in, phát thanh truyền hình.
Ở một số nước tư bản cho rằng, tòa soạn báo chí cũng như các cơ quan, xí nghiệp. Tức là mọi thông tin mà cơ quan báo chí, ngoài mục đích tuyên truyền, thì yếu tố chính trị cũng như lợi nhuận kinh tế mà nó mang lại phải ngang bằng nhau. Còn ở các nước xã hội chủ nghĩa, thì cho răng tòa soạn báo chí phải phục vụ lợi ích của nhân dân, đặc biệt là nhân dân lao động. Lé-nin đã khái quát tòa soạn báo chí như sau: tòa soạn báo chí phải là những người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thé, và tổ chức tập thé; va ông vi tòa soạn không 10 khác gì dàn nhạc giao hưởng, trong đó các số báo chính là bản nhạc do dàn nhạc đó chơi.
Một số tác giả lại cho rằng, tòa soạn có công việc chính là biên tập, tô chức trang báo (đối với báo in, báo điện tử) và sắp xếp chương trình (đối với báo chí phát thanh, truyền hình). Nhưng một số ý kiến khác cho rằng, tòa soạn, toa báo, trụ sở báo chí, cơ quan báo chí đều có ý nghĩa như nhau về phương thức hoạt động, chỉ khác nhau về cách gọi, cách truyền tải thông tin. Điều 16 Luật Báo chí năm 2016 có nêu: Cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của các cơ quan, tổ chức được phép thành lập cơ quan báo chí (quy định tại Điều 14 của Luật này) thực hiện một hoặc một số loại hình báo chí; có một hoặc một số sản phẩm báo chí theo quy định của Luật này. Từ các quan niệm đó, cũng như tình hình riêng biệt của báo chí nước ta, có thể đưa ra một khái niệm chung và bao quát về cơ quan báo chí như sau: Cơ quan báo chí là cơ quan thực hiện một loại hình báo chí, bao gồm: báo in (báo, tạp chi, bản tin thời sự, bản tin thông tan), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), bảo điện tu (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài.
- Khải niệm “quan ly” Quan lý là việc quan tri của một tô chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ. Quan lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một t6 chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên (hoặc tình nguyện viên) dé hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ va nhân lực. 11 Trong đời sống xã hội, quản lí xuất hiện khi có hoạt động chung của con người. Quản lí điều khiến, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động chung thống nhất của tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước.
Đề thực hiện hoạt động quản lí cần phải có tổ chức và quyền uy. Tổ chức phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung: quyền uy đem lại khả năng áp đặt ý chí của chủ thé quản lí đối với các đối tượng quản lí, bảo đảm sự phục tùng của cá nhân đối với tổ chức. Quyền uy là phương tiện quan trong để chủ thé quan lí điều khiển, chỉ dao cũng như bắt buộc các đối tượng quản lí thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình. Chủ thé quản lí là cá nhân hay tổ chức - những đại diện có quyền han và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lí.
Khách thé của quan lí là trật tự quản lí. Trật tự quản lí được quy định bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật. tuỳ theo từng loại hình quản lí. Chức năng quan trọng nhất vận hành thường xuyên bằng bộ máy nhà nước bảo đảm mọi hoạt động của xã hội cũng như trên từng linh vực đời sống xã hội vận động theo một hướng, đường lối nhất định do Nhà nước định ra.
Quản lí nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ôn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu ma tang lớp cầm quyền theo đuổi. Quản lí nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thê thống nhất. Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp pháp, điều 12 hành, quản lí hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. - Khai niệm “văn phòng đại điện ” Văn phòng đại điện lâu nay được xem là danh từ chỉ một phần của một thực thể nào đó.
Đó là một cụm từ, ghép lại với 2 từ “văn phòng” và “đại diện”. * Van phòng Dé phục vu cho công tác lãnh dao quan lý ở các cơ quan, don vi cần phải có công tác văn phòng với những nội dung chủ yếu như: tổ chức, thu thập xử lý, phân phối, truyền tải quản lý sử dụng các thông tin bên ngoài và nội bộ, trợ giúp lãnh đạo thực hiện các hoạt động điều hành quản lý cơ quan, đơn vi. Bộ phận chuyên đảm trách các hoạt động nói trên được gọi là van phòng. Thực tế, cách hiểu nau có từ thời Trung Cé (1000-1300), khi đó văn phòng đã được manh nha hình thành và là nơi mà hầu hết các lá thư của triều đình, các văn bản luật pháp đã được sao chép và lưu g1ữ.
Ngày nay, văn phòng có thé được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau như sau: Theo nghĩa rộng: Văn phòng là bộ máy làm việc tổng hợp và trực tiếp trợ giúp cho việc điều hành của ban lãnh đạo một cơ quan, đơn vị. Theo quan niệm này thì ở các co quan thâm quyền chung, cơ quan đơn vị có quy mô lớn thì thành lập văn phòng (ví dụ Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Tổng công ty.); còn ở các cơ quan, đơn vị có quy mô nhỏ thì văn phòng là phòng hành chính tổng hợp. Theo nghĩa hẹp: Văn phòng là trụ sở làm việc của một cơ quan, đơn vi, là dia điểm giao tiếp đối nội và đối ngoại của cơ quan đơn vị đó. Ngoài ra, văn phòng còn được hiểu thêm nghĩa khác nữa là phòng làm việc của thủ trưởng có tầm cỡ cao như: nghị sỹ, kiến trúc sư trưởng.
13 Trong tiếng Anh, khi được sử dụng như một tính từ, thuật ngữ "văn phòng" có thể chỉ các hoạt động liên quan đến việc kinh doanh, với nhiều từ liên quan như văn phòng phẩm, cửa hàng văn phòng phẩm. Về mặt pháp lý, văn phòng có thé là tên giao dich của một tổ chức có tư cách pháp nhân như các văn phòng luật sư, văn phòng công chứng hoặc là một bộ phận của công ty, doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh như văn phòng đại diện, văn phòng thương mại, trung tâm xúc tiền thương mại Từ các cách hiểu trên, ta có cách hiểu chung nhất, văn phòng phải là bộ máy được tổ chức thích hop với đặc điểm cụ thé của từng cơ quan. Ở các cơ quan don vị có quy mô lớn thì bộ máy văn phòng sẽ gồm nhiều bộ phận với số lượng cán bộ nhân viên cân thiết dé thực hiện mọi hoạt động; còn các cơ quan đơn vị có quy mô nhỏ, tính chất công việc đơn giản thì văn phòng có thể gọn nhẹ ở mức độ toi thiểu. Bên cạnh đó, văn phòng phải có địa điểm hoạt động giao dịch với cơ sở vật chất nhất định.
Quy mô của các yếu to vat chat này sẽ phụ thuộc vào quy mô, đặc điểm hoạt động của công tác văn phòng. * Đại điện Trong từ điển, đại diện, nếu là động từ, được hiểu là thay mặt cho cá nhân hoặc tập thé (làm việc gì); nếu là danh từ được hiểu là người được cử thay mặt cho cá nhân hoặc tập thể đi làm việc gì. Đứng về mặt thương mại: Đại diện được hiểu là người đại diện. Khoản 1 Điều 141 Luật Thương mại năm 2005 quy định: Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) dé thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện.
14 Đứng về pháp luật dân sự. Đại diện cũng được hiểu là người đại diện. Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 (bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Hiểu chung nhất, đại diện là thay mặt một cá nhân hoặc một tập thể (goi chung là người được đại diện) thực hiện một việc gì đó mà người được đại diện cho phép trong khuôn khổ pháp luật.