Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Triết học của tác giả Tạ Thị Hồng Thanh, do Th.S Nguyễn Thị Giang hướng dẫn tại Khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (năm 2019), tập trung làm rõ đề tài: "Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay".

Bối cảnh thực tiễn được tác giả xác định xuất phát từ vị trí lịch sử của Phật giáo trong đời sống văn hóa - xã hội Việt Nam. Du nhập từ những năm đầu Công nguyên, Phật giáo với tinh thần "từ, bi, hỷ, xả" đã nhanh chóng hòa nhập tự nhiên vào tâm lý, lối sống của người Việt bản địa. Bước vào thời kỳ đổi mới, việc phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tạo ra sức bật phát triển kinh tế nhưng đồng thời kéo theo những mặt trái xã hội, thể hiện ở sự suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, cũng như tình trạng một bộ phận lợi dụng triết lý tôn giáo để trục lợi. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh yêu cầu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng đạo đức, nhân cách, kết hợp hài hòa giá trị cá nhân và xã hội. Do đó, việc nghiên cứu các giá trị nhân sinh quan Phật giáo để phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt hạn chế trong giáo dục đạo đức là một đòi hỏi lý luận và thực tiễn cấp thiết.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức của người Việt Nam hiện nay; từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của hệ tư tưởng này. Để đạt mục đích trên, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát một số vấn đề lý luận chung về Phật giáo và nhân sinh quan Phật giáo.
  2. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đạo đức của người Việt Nam trên ba bình diện: Ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức.
  3. Đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của công trình là nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu bao quát quá trình từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam cho đến giai đoạn hiện nay, trong đó trọng tâm phân tích lý luận đặt vào thuyết Tứ diệu đế và cấu trúc ba thành tố của đạo đức học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử thuộc triết học Mác - Lênin. Đồng thời, tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành triết học và khoa học xã hội:

  • Phương pháp logic kết hợp lịch sử.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp.
  • Phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu văn bản và tư tưởng.

Về mặt khung lý thuyết và khái niệm, khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các nguồn tài liệu lý luận nền tảng:

  • Lý luận về nhân sinh quan Phật giáo: Khai thác hệ thống giáo lý căn bản gồm thuyết cấu tạo con người (thuyết Danh sắc, thuyết Lục đại, thuyết Ngũ uẩn: Sắc - Thụ - Tưởng - Hành - Thức), phạm trù Vô ngã, Vô thường (sát na vô thường, tương tục vô thường), Thập nhị nhân duyên, luật Nhân quả - Nghiệp báo và cốt lõi là thuyết Tứ diệu đế (Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế với Bát chính đạo).
  • Lý luận về đạo đức và kết cấu đạo đức: Tổng thuật quan niệm đạo đức qua lịch sử triết học phương Đông (quan niệm Đạo - Đức thời Chu), phương Tây (Xôcrát, Arixtốt, Êpiquya, L. Phoiơbắc), quan điểm Hồ Chí Minh (ba cấp độ nghĩa rộng, hẹp, rất hẹp) và quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin. Khóa luận định vị kết cấu đạo đức gồm 3 bộ phận hữu cơ: Ý thức đạo đức, Hành vi đạo đức và Quan hệ đạo đức.
  • Nguồn dữ liệu tham khảo: Dựa trên các công trình nghiên cứu của Viện Triết học (GS. Trần Văn Giầu, PGS. Nguyễn Tài Thư, GS. Phan Đại Doãn), các nghiên cứu chuyên khảo của PGS.TS. Nguyễn Hùng Hậu, TS. Đặng Thị Lan, TS. Nguyễn Đăng Duy, TS. Lê Hữu Tuấn, cũng như các tác phẩm Phật học của Thích Tâm Thiện, Thích Thiện Siêu, Thích Chân Quang, Peter D. (bản dịch Thích Tâm Quang).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về nhân sinh quan Phật giáo

Chương này tập trung trình bày 3 nội dung lớn: lịch sử hình thành Phật giáo cùng quá trình du nhập vào Việt Nam; nội dung bản chất của nhân sinh quan Phật giáo; khái niệm và kết cấu của đạo đức.

Về nguồn gốc, Phật giáo ra đời vào thế kỷ thứ VI TCN tại Bắc Ấn Độ do Thái tử Tất-đạt-đa (Sidharta Gautama) sáng lập. Khóa luận ghi nhận quá trình du nhập vào Việt Nam diễn ra sớm (từ trước Công nguyên hoặc thế kỷ II - III SCN) qua hai con đường chính: đường biển ("con đường Hồ Tiêu") và đường bộ ("con đường Đồng Cỏ"). Tác giả tổng kết ba đặc điểm lớn của Phật giáo Việt Nam: du nhập tự phát, hòa bình không gây xung đột với văn hóa bản địa, và luôn đồng hành cùng dân tộc trong lịch sử dựng nước, giữ nước (tiêu biểu ở thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần với việc hình thành trung tâm Luy Lâu, hệ thống chùa Tứ pháp và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử).

Về nhân sinh quan, Phật giáo là học thuyết hướng về giải thoát con người khỏi khổ đau trần thế. Nội dung cốt lõi được tác giả làm rõ qua bảng tổng hợp các giáo lý căn bản:

Học thuyết / Khái niệm Nội dung bản chất trong văn bản
Thuyết cấu tạo con người Con người là sự giả hợp tùy duyên của Ngũ uẩn (Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức), Danh - Sắc, Lục đại (Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Thức); bản chất là "Vô ngã" và chịu sự chi phối của "Vô thường".
Khổ đế (Dukkha) Chỉ rõ bản chất cuộc đời là bể khổ gồm 8 nỗi khổ lớn (sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bất đắc, thủ ngũ uẩn).
Tập đế (Samudaya) Nguồn gốc gây khổ bắt nguồn từ Vô minh và Ái dục, cụ thể hóa qua Tam độc (Tham, Sân, Si) và chuỗi Thập nhị nhân duyên.
Diệt đế (Nirodha) Khẳng định khả năng tiêu diệt khổ đau, đoạn trừ vô minh để đạt tới cõi Niết bàn an lạc, hướng tới Chân - Thiện - Mỹ.
Đạo đế (Magga) Con đường tu tập diệt khổ gồm Bát chính đạo: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định.

Về phạm trù đạo đức, tác giả luận giải đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và biến đổi theo phương thức sản xuất. Kết cấu đạo đức được xác lập qua ba thành tố:

  1. Ý thức đạo đức: Tri thức, tình cảm, ý chí và lý tưởng đạo đức của chủ thể.
  2. Hành vi đạo đức: Hành động tự giác được dẫn dắt bởi động cơ đạo đức, đánh giá qua kết quả và chuẩn mực xã hội.
  3. Quan hệ đạo đức: Hệ thống quan hệ tương tác xã hội giữa người với người, mang tính tự giác và tự nguyện.

Chương 2: Những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức của người Việt Nam hiện nay

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) của nhân sinh quan Phật giáo lên từng bộ phận cấu thành của đạo đức người Việt:

Thứ nhất, ảnh hưởng đến ý thức đạo đức:

  • Tích cực: Nhân sinh quan Phật giáo bồi đắp truyền thống yêu nước, tinh thần nhập thế phụng sự dân tộc; nuôi dưỡng đạo lý "Từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha", lối sống nhân ái "thương người như thể thương thân", "lá lành đùm lá rách". Tinh thần này củng cố đạo lý Tứ Ân (ơn cha mẹ, ơn sư trưởng, ơn quốc gia, ơn chúng sinh) và đặc biệt nâng cao chữ "Hiếu" (thông qua các kinh Thai Cốt, Báo Phụ Mẫu Ân, Vu Lan). Đạo lý Phật giáo dung hợp chặt chẽ với chủ nghĩa yêu nước, minh chứng qua tư tưởng thân dân thời Lý - Trần và đường lối nhân bản của Nguyễn Trãi.
  • Tiêu cực: Do coi thế gian là cõi tạm, bể khổ và hướng tới Niết bàn siêu thoát, nhân sinh quan Phật giáo dễ dẫn tới tư tưởng yếm thế, thụ động, khuyên con người cam chịu, không thúc đẩy tinh thần đấu tranh xã hội cải tạo thực tại; triết lý quá chú trọng tu dưỡng tâm tính cá nhân mà tách rời các quan hệ vật chất - xã hội khách quan.

Thứ tư, ảnh hưởng đến hành vi đạo đức:

  • Tích cực: Thuyết Nhân quả - Nghiệp báo ("ở hiền gặp lành", "gieo gió gặt bão", "chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành") đóng vai trò điều chỉnh hành vi cá nhân một cách tự giác. Nhiều thế hệ Phật tử tham gia tích cực vào sự nghiệp cứu nước ("cởi áo cà sa khoác áo chiến bào", căn cứ kháng chiến tại chùa Tam Bảo của Thiền sư Thích Thiện Chiếu, sự hy sinh của Hòa thượng Thích Quảng Đức năm 1963...). Về sinh hoạt đời thường, Phật giáo hòa nhập vào tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, xây dựng nếp sống từ thiện, xây chùa làng gắn bó với thuần phong mỹ tục.
  • Tiêu cực: Việc nhận thức sai lệch luật nhân quả dẫn đến tâm lý mê tín dị đoan, cầu cúng trục lợi, đốt vàng mã tràn lan, thương mại hóa cơ sở thờ tự, hoặc thái độ ỷ lại vào số mệnh, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên.

Thứ ba, ảnh hưởng đến quan hệ đạo đức:

  • Tích cực: Xây dựng mối quan hệ gia đình hiếu nghĩa, hòa thuận; thiết lập quan hệ xã hội giàu lòng vị tha, tương thân tương ái, bình đẳng và tôn trọng sự sống muôn loài.
  • Tiêu cực: Tư tưởng nhẫn nhục, dĩ hòa vi quý cực đoan có thể làm mờ nhạt ranh giới đấu tranh giai cấp, dẫn tới thái độ dung hòa vô nguyên tắc trước cái ác và sự bất công.

Chương 3: Một số khuyến nghị để phát huy tính tích cực và hạn chế những tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong đạo đức con người Việt Nam hiện nay

Chương 3 trình bày cơ sở đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo: tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng; phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo; hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các nhóm khuyến nghị chủ yếu:

  1. Gắn kết phát triển kinh tế thị trường với việc giữ gìn chuẩn mực đạo đức: Khai thác các giá trị nhân văn, hướng thiện của Phật giáo để ngăn ngừa tình trạng suy thoái lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất mù quáng.
  2. Phát huy vai trò xã hội tích cực của các tổ chức Phật giáo: Khuyến khích Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tăng ni, phật tử tham gia vào các hoạt động từ thiện, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, tham gia giáo dục đạo đức cộng đồng theo phương châm "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội".
  3. Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, bài trừ các hủ tục và mê tín dị đoan: Nâng cao dân trí để quần chúng hiểu đúng giáo lý Phật học chân chính, phân biệt rõ đức tin tôn giáo lành mạnh với tệ nạn buôn thần bán thánh, lợi dụng tôn giáo để trục lợi hoặc chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và đạt được các kết quả cụ thể:

  • Làm rõ tính quy luật của sự du nhập và bản sắc riêng của Phật giáo Việt Nam: con đường hòa bình, dung hợp tín ngưỡng dân gian bản địa (thờ Mẫu, Tứ pháp, thờ cúng tổ tiên) và tinh thần đồng hành cùng lịch sử dân tộc.
  • Vận dụng nhất quán cấu trúc ba thành tố đạo đức (ý thức, hành vi, quan hệ đạo đức) để phân tích tác động biện chứng hai mặt của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế thị trường.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp gắn liền giữa chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước với thực tiễn hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhằm phục vụ mục tiêu xây dựng văn hóa và nhân cách con người mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Công trình được thực hiện ở quy mô khóa luận tốt nghiệp cử nhân nên chủ yếu dừng lại ở cấp độ phân tích lý luận và tổng hợp tài liệu thứ cấp, chưa tiến hành điều tra xã hội học định lượng thực địa để cung cấp số liệu khảo sát thống kê về mức độ ảnh hưởng của Phật giáo tại các địa bàn dân cư cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát xã hội học thực nghiệm đối với các nhóm đối tượng cụ thể (giới trẻ, sinh viên, phật tử đô thị và nông thôn); đi sâu so sánh ảnh hưởng đạo đức của các tông phái Phật giáo khác nhau (Bắc tông, Nam tông, Khất sĩ, Trúc Lâm Yên Tử) trong bối cảnh xã hội số và truyền thông đa phương tiện hiện nay.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Triết học, Giáo dục Chính trị, Tôn giáo học, Văn hóa học khi tìm hiểu về Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Đạo đức học Mác - Lênin và Triết học Phật giáo.
  • Giảng viên và người nghiên cứu cần tài liệu tham khảo về khung cấu trúc phân tích ảnh hưởng tôn giáo lên ba bình diện đạo đức.
  • Cán bộ làm công tác văn hóa, tôn giáo và hoạch định chính sách xã hội ở địa phương trong việc nhận diện các biểu hiện tích cực và tiêu cực của sinh hoạt tín ngưỡng Phật giáo hiện nay.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân tích ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức theo cấu trúc nào?
Tác giả phân tích tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) dựa trên ba thành tố cơ bản của kết cấu đạo đức học: Ý thức đạo đức, Hành vi đạo đức và Quan hệ đạo đức.

2. Học thuyết nào của Phật giáo được chọn làm trọng tâm phân tích nhân sinh quan trong khóa luận?
Khóa luận tập trung khai thác thuyết Tứ diệu đế (Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế với Bát chính đạo), kết hợp với các học thuyết về cấu tạo con người (Danh sắc, Lục đại, Ngũ uẩn) và thuyết Nhân quả - Nghiệp báo.

3. Khóa luận nêu những con đường và đặc điểm du nhập nào của Phật giáo vào Việt Nam?
Phật giáo vào Việt Nam qua hai con đường: đường biển ("con đường Hồ Tiêu") và đường bộ ("con đường Đồng Cỏ"). Ba đặc điểm nổi bật là: du nhập mang tính dân dã tự phát, truyền bá hòa bình dung nạp tín ngưỡng bản địa (Tứ pháp, thờ cúng tổ tiên), và luôn gắn bó, đồng hành cùng sự nghiệp dựng nước, giữ nước của dân tộc.

4. Khóa luận chỉ ra những hạn chế/tiêu cực gì của nhân sinh quan Phật giáo đối với đạo đức?
Các hạn chế bao gồm: tư tưởng yếm thế, coi đời là bể khổ dẫn tới tâm lý thụ động cam chịu; triết lý tu dưỡng cá nhân tách rời quan hệ vật chất xã hội; thái độ nhẫn nhục làm mờ nhạt ý thức đấu tranh xã hội; và sự biến tướng thành mê tín dị đoan, cầu cúng trục lợi, đốt vàng mã trong đời sống hiện thực.

5. Tinh thần nhập thế yêu nước của Phật giáo Việt Nam được minh chứng qua các sự kiện/nhân vật lịch sử nào trong văn bản?
Văn bản dẫn chứng vai trò của các Thiền sư Pháp Thuận, Vạn Hạnh thời Đinh - Lê - Lý; các vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi; phong trào "cởi áo cà sa khoác áo chiến bào", căn cứ chùa Tam Bảo của Thiền sư Thích Thiện Chiếu, các Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Hào và sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu năm 1963.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tạ Thị Hồng Thanh đã trình bày một cách có hệ thống cơ sở lý luận về nhân sinh quan Phật giáo và kết cấu đạo đức dưới lập trường triết học Mác - Lênin. Thông qua việc phân tích toàn diện trên các bình diện ý thức, hành vi và quan hệ đạo đức, tác giả đã làm rõ cả giá trị nhân văn tiến bộ lẫn những mặt hạn chế lịch sử của hệ tư tưởng này đối với con người Việt Nam. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất các nhóm giải pháp phù hợp với đường lối của Đảng nhằm phát huy các giá trị đạo đức tích cực của Phật giáo, góp phần xây dựng nhân cách và lối sống lành mạnh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường hiện nay.