Chương 1: Cơ sở lý thuyết O chương này, luận văn sẽ lần lượt trình bây một số vẫn đẻ chung về giao tiếp, mỗi quan hệ giữa lời nói và chữ viết, những đặc điểm của ngôn ngữ nói và viết. Đấy là những tiền đẻ để luận văn đi sâu thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu ở chương sau. Giao tiếp và năng lực giao tiếp 11. Khái quát về giao tiếp Giao tiếp là hiện tượng phô biến trong các kiểu xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng đẻ truyền đạt một nội dung nào đó.
Giao tiếp là một trong những đặc trưng của xã hội, giúp phân biệt xã hội với các quản thể không. phải là xã hội. Giao tiếp bằng ngôn ngữ là hiện tượng diễn ra hằng ngảy trong các cộng đồng. Theo Berge (1994) : “Giao tiếp được hiểu là quá trình thông tin điễn ra giữa ít nhất là hai người giao tiếp trao đôi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất định".
Như vậy giao tiếp phải do hai người trao đổi với nhau, nếu người thứ hai không cộng tác thỉ giao tiếp không thể diễn ra. Và sự giao tiếp bao giờ cũng. phái “gắn với một ngữ cảnh và một tình huồng nhất định”. Ngữ cảnh là nơi cung cấp đẻ tài, nhân vật, điều kiện cho giao tiếp diễn ra, và qua đó mà quy định cá cách thức tiến hành cuộc giao tiếp.
Tình huống được hiểu là cái khung sự việc chung thường lặp đi lặp lại có thể hình dung như một kịch bản cho sẵn (như bữa cơm giá đình, buổi học ở lớp học, cuộc giải trí trong giờ chơi, cuộc khám bệnh,. Con người có thê giao tiếp với nhau bảng nhiều phương tị quát thành ba loại phương tiện chủ yếu là 1g âm thanh, bài *hành động vật li. Giao tiếp bằng âm thanh có thẻ là cách dùng lời truyền miệng dé nói với nhau những điều cần nói; hoặc dùng các phương tiện gây ra âm thanh, tiếng. động như dùng các nhạc cụ, thôi tù và, đánh trồng, đánh mõ,.
Giao tiếp bằng ánh sáng là cách dùng các loại phát quang như đốt lửa, dùng đẻn hiệu kiểu đèn đường. Giao tiếp bằng hành động vật li là dùng sự vận động vật chất như hích khuỷu tay, đập nhẹ vào lưng.Trong số các phương tiện đó, ngôn ngữ âm thanh tự nhiên của con người là phương tiện tiện lợi nhất và hữu hiệu nhất (không tính đến các phương tiện giao tiếp đo khoa học công nghệ đem lại). Phương tiện giao tiếp được bản ở đây là ngôn ngữ âm thanh tự nhiên của con người và được gọi là ngôn ngữ nói và dạng tôn tại thứ hai của nó là ngôn ngữ viết. “Trong quả trình giao tiếp, ngôn ngữ thực hiện hai chức năng chủ yếu.
Chức năng thứ nhất là chức năng trao đối hoặc truyền tin, tức sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt, biểu hiện, miêu tả nội dung sự việc. Chức năng thứ hai là chức năng tác động, tức sử dụng ngôn ngữ để thiết lập và duy trì các mỗi quan hệ xã hội giữa các bên tham gia giao tiếp 1. Năng lực giao tiếp Năng lực giao tiếp là năng lực vận dụng ngôn ngữ để tiến hành giao tiếp hội. Ngay từ khi còn nhỏ, lúc trẻ học nói cũng là lúc trẻ học các quy tắc giao tiếp.
trong xã hội, tức là trẻ không chỉ học cách đặt câu mã còn phải học cách giao tiếp. với người khác như thế nảo. Trẻ tiếp tục học hói, trau dồi năng lực giao tiếp trong. các môi trường: gia đình, nhả trường cũng như trong xã hội rộng lớn.
Vì vậy, nhờ xã hội mà con người có được năng lực giao tiếp. Mỗi xã hội lại có một loạt các quy tắc, chuẩn mực giao tiếp riêng. Trong đó có những quy tắc thuộc về quy định như luật pháp vả có những quy tắc thuộc vẻ tập tục, thi quen hình thành như phong tục, tập quán. Những quy tắc, chuẩn mực giao.
tiếp này chỉ phối hành vi của con người. Mỗi xã hội có những quy tắc, chuẩn mực giao tiếp riêng cho nên để xảy ra trưởng hợp chuẩn mực giao tiếp này sẽ là phi chuân mực giao tiếp của xã hội kia. Vĩ dụ: Người Trung Quốc khi đến thăm bạn hè, trước lúc ra vẻ, đủ là bạn rất thân, thường nói những câu xã giao kiểu như là lời xin lỗi. Chẳng hạn: “Làm phién anh nhiều quá! Mất nhiễu thời gian của anh".
Đỏ thật ra chỉ là những câu nói khách sáo cho lịch sự, chứ hâu như không có hàm ÿ xin lỗi nào cả. Nhưng nếu nỏi những câu đại loại như thể với một người Âu - Mỹ thì người ấy sẽ hiểu đó là một lời xin lỗi thật sự. Vi du: Đối với nhiều dân tộc, câu nói sau đây sẽ bị coi là rất “quái đản” và khủng. khiếp: “Ông già đã tám mươi tuổi mà con cải vẫn chưa cho bíu vào cây để ăn thịt” Song câu này sẽ là bình thường nêu xuất hiện trong bộ lạc có tục bắt bố mẹ giả bíu vảo cảnh cây, nếu ai không còn đủ sức biu mà rơi xuống đất sẽ bị con cháu ăn thịt, vì những người dân của bộ lạc đó quan niệm không có nơi nào chôn cất cha mẹ quý.
hơn là ở trong lòng con cháu. Nang luc giao tiếp còn được thể hiện ở việc sử dụng ngôn ngữ phủ hợp với bối cảnh giao tiếp. Bối cảnh giao tiếp được hình thành từ ba nhân tổ gồm (¡) Chu cảnh (thời gian, địa điểm vả các trường hợp đặc thủ có liên quan đến truyền thống. văn hóa); (0ï) Thoại đề (chủ đề giao tiếp và nội dung đẻ cập đến); (iii) Người tham.
Trong đó, nhân tố thứ ba chiếm vị trí quan trọng: nhân thân của người tham gia giao tiếp như địa vị kinh tế, xã hội, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác,. cùng quan hệ vai giữa những. người tham gia giao tiếp như quan hệ cha - con; giám đốc - nhân viên, thầy giáo - học sinh, người bán - người mua. Ở đây có hai khả năng xáy ra: (i) Nếu như trong.
một cuộc giao tiếp xảy ra trong một chu cảnh thích hợp, chủ để giao tiếp tương xứng với nhân thân vả tương xứng với quan hệ vai của những người giao tiếp thì bối cảnh giao tiếp nảy được coi là “bối cảnh đồng dạng”. (ii) Ngược lại, chỉ cần có một trong các điểm trên không tương hợp thì sẽ được gọi là “bổi cánh phi dong dạng”. Người cô năng lực giao tiếp là người luôn biết sử dụng ngôn ngữ phủ hợp. Mối quan hệ giữa lời nói và chữ viết Ngôn ngữ nói nảy sinh trước ngôn ngữ viết.
Theo Halliday, khí có sự xuất hiện nền văn hóa lấy nông nghiệp làm gốc hơn là săn bắt và hái lượm thì con người đã cần đến những ghi chép giữ được lâu để cỏ thê nhắc đi, nhắc lại. Ngôn ngữ nói đã không thể đáp ứng một cách dễ dàng những nhu câu này. Điều này dẫn xuất hiện một dạng mới của ngôn ngữ - chữ viết. [49] Ban đầu, khi hệ thống chữ viết chưa phát triển thì chữ viết được dùng để ghi lai lời nói.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển riêng của minh, chữ viết đã dần dân hình thành cho minh một hệ thống riêng, có phần khác biệt với lời nói. Và sự phát triển này mạnh mẽ tới mức chữ viết ngày càng chiếm wu thé hon so với lời nói đối với việc duy trì tính thông nhất của ngôn ngữ qua thời gian. Bởi lẽ hình ảnh chữ viết của từ đập vào trí ta như một vật cô định và vững chắc. Phẩn lớn ở chủng ta, các ấn tượng thị giác vẫn rõ và bền hơn các ấn tượng thính giác.
Hình tượng chữ viết rốt cuộc lắn át âm thanh. Ngôn ngữ văn học cảng làm tăng thêm ưu thể của chữ viết, người ta giảng dạy ở nhà trường cũng theo sách và bằng sách. Thậm chí, khi nói chuyện nếu gặp hai từ phát âm như nhau, đôi lúc họ nhờ đến chữ viết đẻ giải thích ý nghĩ của mình như người Trung Quốc chẳng hạn. Goody cũng cho rằng ngôn ngữ viết có hai chức năng: chức năng thử nhất là chức năng lưu trữ, cho phép việc giao tiếp vượt qua không gian và thời gian.
Chức năng thứ hai “chuyên ngón ngữ từ nói sang nhin” và cho phép khảo sắt từ, câu nằm ngoài ngữ cánh ban dau, trong một “ngữ cảnh hoàn toàn khác, rất trừu tượng”- (4, 32] Dường như có lí khi cho rằng trong đời sống hàng ngày của một nền văn hóa học thức, chúng ta sử dụng lời nói phân lớn để thiết lập và duy trì các quan hệ xã hội, còn ngôn ngữ viết phần lớn đê kiến tạo vả chuyên giao thông tin. Tuy nhiên, có trường hợp lời nói được dùng để chuyên giao chỉ tiết thông tin sự kiện. Lúc ấy, điều đáng lưu ý là người nghe thường ghỉ lại chỉ tiết anh ta được thông báo. Vì thế, bác sĩ ghi lại triệu chứng của bệnh nhân, kiến trúc sư ghi lại yêu cầu của khách hàng, chúng ta ghi lại địa chỉ, số điện thoại.
cách chế biến món ăn, mẫu đan len,.Khi người nhận không ghi lại được chỉ tiết, thông thưởng người nói sẽ lặp đi lặp lại nhiều lần sau đó. Thứ xét cầu trúc điển hình của một bản tin phát thanh, bắt đầu bảng tiêu đề - một chuỗi các tuyên bố tóm tắt - theo sau là bản tin bao gồm phân mớ rộng vả nhắc lại tiêu đề, lồng vào đó là bình luận của “phỏng viền tại chở” vốn chỉ nhắc lại các điểm chính, cuối củng kết thúc bằng cách lặp lại chuỗi tiêu đề. Nhìn chung ai cũng cho rằng người ta không nhớ hết các chỉ tiết một cách chính xác nếu họ chỉ được nghe nói, đặc biệt nêu họ buộc phải nhớ lại chủng sau một thời gian dải. Về khía cạnh giao tiếp này, ngôn ngữ viết tỏ ra ưru việt hơn nhiễu như để giúp người ta nhớ các thứ vặt vãnh cá nhân trong sinh hoạt hàng ngày, hay để giúp các nhà nước thiết lập guồng máy, luật pháp và hiệp ước với nhà nước khác.
Điểm khác nhau chinh yêu giữa lời nói và chữ viết xuất phát từ thực tế một bên thì nhất thời, một bên thì trường cửu. Chính đây la điều mà D.Enright bình luan: “ Plato có thể đã có lằn cho rằng lời nói quan trọng hơn chữ viễt, nhưng tôi không chắc là ở thời điểm này ông có nghĩ như vậy nữa hay không!". [4, tr33] Bên cạnh đó, có tình trạng không ăn khớp giữa lời nói va chữ viết. Bởi lẽ lời nói thường được thế hiện qua những cách phát âm khác nhau theo địa phương.
còn chữ viết thường hướng đến tính thống nhất, toản dân.