Chương 1: Téng quan chưng về Hệ thông đỗi mới quốc gia Chương 2: Kinh nghiệm phát triển Hệ thông đổi mới quốc gia ở một số nước châu A Chương 3: Một số gợi ý chính sách nhằm phải triển Hệ thẳng dỗi mới quốc gia ở Kiệt Nam CIIƯƠNG 1 TONG QUAN CHUNG VE HE THONG DOI MOI QUOC GIA 1. Mật số khái niệm có liên quan 1. Khải niệm công nghệ Có thể nói công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài người. Từ “công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp (Telzme — Tenkjme) có nghĩa là một công nghệ hay một kỹ năng, và (øoø iogos) có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu.
Như vậy, thuật ngữ Technology (CLiếng anh) hay ‘Technologie (‘liéng Phap) co ý nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sư nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật— thường được gọi là Công nghệ học Có nhiễu quan niệm và dịnh nghĩa khác nhau về công nghệ, trong cuốn giáo trình “Quán trị công nghệ” đã giới thiệu một định nghĩa tương đổi đầy đủ về công nghệ: “Công nghệ là việc sử dụng sáng tạo các loại công cụ, máy móc, trị thức và kỹ năng để biến đổi các yếu tô đầu vảo thành sản phẩm hay dịch vụ” [6] Ở Việt Nam, cho đến nay công nghệ thường được hiểu là quá trình tiến hành một công đoạn sẵn xuất, lả thiết bị để thực hiện một công việc (do đó công nghệ thường lả tính tử của cụm thuật ngữ như: qui trình công nghệ, thiết bị công nghệ, dây chuyền công nghệ. Theo những quan niệm này, công nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất. Tử những năm 60 của thế kỷ XX, khởi dầu từ Mỹ rồi Tây Âu đã sử dựng thuật ngữ “công nghệ” dễ chỉ các hoạt dộng ở mọi lĩnh vực, các hoạt động này áp dụng những kiến thức lả kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng một sự phát triển của khoa học trong thực tiễn nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người. Khái niệm công nghệ nảy dần dần được chấp nhân rông rãi trên thế giới, ví đụ thể hiện ở việc thay đổi tên gọi của các tạp chí lớn trên thể giới, nhu “Tap chi khoa hoc vi ky thuat — Science et tschnique” déi thành “Khoa học và công nghệ - 5cience et technogie” Ở Việt Nam, Nghị quyết 26 của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung tương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VI (1991) mang tên “Nghị quyết về khoa học — công nghệ”.
Như vậy, thuật ngữ công nghệ đã được sử dụng chính thức ở nước 1á. Năm 1992, Ủy bạn khoa học — kỹ thuật Nhà nước dỗi thành Bộ khoa hạc — công nghệ và Môi trường (nay là Bệ khoa học - công nghệ). Mặc đầu đã được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới, song việc đưa ra một định nghĩa công nghệ lại chưa có được sự thống nhất. Dó là đo số lượng các công nghệ hiện có nhiều dến mức không thể thống kê dược, công nghệ lại hết sức da dạng, khiến những người sử dụng một công nghệ cụ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau sẽ dẫn đến sự khái quát của họ về công nghệ sẽ khác nhau.
Bên cạnh đó sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ làm thay đối nhiều quan niệm cũ tưởng như vĩnh cửu, cũng là nguyên nhân dẫn đên sự không thống nhất trên. Việc đưa ra một định nghĩa khái quát được bản chất của công nghệ lả việc cần thiết, bởi vì không thể quản lý công nghệ, một khi chưa xác dịnh rõ nó là gái gì. Các tổ chức quốc tế về Khoa học — oông nghệ đã có nhiều cố gắng trong việc đưa ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hoa cac quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập các quốc gia trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Có bến khia cạnh cân bao quát trong định nghĩa công nghệ, đó là Khia cạnh “công nghệ là máy biển dội” Khia cạnh “công nghệ là mội công cụ ” Khia cạnh “công nghệ là kiến thức ” Khia cạnh “công nghệ hàm chứa trong các đạng hiện thân của nó`”.
Khía cạnh thử nhất đề sập đến khả năng làm ra đồ vật, đồng thời công nghệ phải đáp ủng mục tiêu khi sử dựng và thoả mãn yêu cầu về mặt kinh tế nếu nó muốn được áp dụng trên thực tế. Dây là điểm khác biệt giữa khoa học và công nghệ Môi trưởng công nghệ Hang hoa ee Hoạt động, sản XHÂt Dịch vụ | ng, nghệ Hình 1. Công nghệ là công cụ biển đối Khia canh thử hai nhấn mạnh công nghệ là mệt sản phẩm của con người, do đó con người có thể làm chữ được nó vì nó hoàn toàn không phải là “gái hộp đơn” huyền bí. Vì là một công cụ nên công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ đối với con người và cơ cầu tổ chức.
Khía canh thứ ba đề cập đến cốt lõi của mọi hoạt đông công nghệ là kiến thức. Nó bác bỏ quan niệm công nghệ phải là các vật thể. phải nhìn thay được. Đặc trưng kiển thức khẳng dịnh vai trò dẫn dường của khoa hoc dối với công nghệ, ding thời nhẫn mạnh rằng không phải ở các quốc gia có các công nghệ giống nhau sẽ đạt được kết quả như nhau.
Việc sử dụng một dông nghệ đời hồi con người cần phải được đảo tạo về kĩ năng, trang bị kiến thức và phải luôn cập nhật những kiến thức đó. 10 Khia canh thứ Lư đề cập đến vẫn đề: công nghệ dù lả kiến thức song vẫn có thể được mua, được bán. Đó là do công nghệ hàm chứa trong các vật thể tạo nên nó. Trung tâm chuyến giao công nghệ khu vực Châu Á và Thái Binh Duong (The Asian and Pacilic Center For Transfer of Technology — APCLL) coi công nghệ hàm chứa trong bổn thành phần: kỹ thuật, kỹ năng con người, thông tỉn và Lễ chức.
Xuất phát từ các khía cạnh trên, chủng ta có thể thửa nhận dịnh nghĩa công nghệ đo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (Economic and Social Commission Lor Asia and the PacHic — ESCAP) đưa ra: Công nghệ là kiến thức có hệ thông về quy trình và kỹ thuật dùng dễ chế biển vật liệu và thông tín. Nó bao gồm kiên thức, tết bị, phương pháp và các hệ thẳng dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cắp địch vụ. |13| Dinh nghĩa công nghé eda Uy ban kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á — Thái Bình Dương được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ. Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, ama khái niêm công nghệ được mở rộng ra tẤt cả các lĩnh vực hoạt động xã hội.
Những lĩnh vực sông nghệ mới mẻ dần trở thành quen thuộc: công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng 1. Các thành phần cơ bản của công nghệ Công nghệ hao gồm nhiều thành phân khác nhau, nhưng cối lối bao giờ cũng bao gâm bốn thành phan cơ bản sau: Thứ nhất: Phần kỹ thuật CTechnology - T), bao gỗm các phương tiện vật chất cần thiết cho sẵn xuất, ví dụ như máy móc, dụng cụ, các thiết bị trong đây chuyên. phan nây được coi là phần vật chất cốt lõi của bắt kỳ sư chuyển đỗi đối tượng lao động nào. Phần con ngwéi (Human - H) 14 k¥ nang vả kinh nghiệm của con người làm chủ công nghệ, nó bao gồm năng lực sáng tao, sit dung phan 11 kỹ thuật một cách khéo léo về thao tác và tư duy tỗ chức vận hành, hệ thống thông tin.
Dây là phần chủ chốt của bất kỳ thao tác vận hành công nghệ. Con người là nguồn gốc của mọi sáng tạo, nền kinh tế tri thức trong tương lai, chất xám, trí tuệ của con người tác động nhanh, có sức mạnh quyết định các quá trình chuyển đổi phát triển Thứ ba: Phần thông tin (Information - 1), bao gồm các tài liệu mả bản thân phần vật chất của kỹ thuật của công nghệ mang lại thông tin; ví dụ như sơ đầ quy trình công nghệ, bản thiết ké, cdc bảng tính, công thức, phương trình biếu dé ly thuyét, các thao tác chuyển đổi, các mẫu mã, phần mềm hỗ trợ. Phần này do con người tạo ra và sử dụng có ý nghĩa trong việc dao tao, nghién cửu phát triển. Đây cũng là phần được bảo mật Thr tr: Phần tỗ chức (Orgamizauion - O), là sự bố trí và mỗi liên hệ con người với con người về thông tin, máy móc, thiết bị trong sẵn xuất, Nó bao gồm sơ đồ cơ cầu tổ chức cho các hoạt động, loại hình công ty, vi đụ như phan công nhân sự, thiết lập các quy tắc vận hành, phương pháp quản lý công nghệ, quần lý chất lượng, nội quy làm việc.
Bất cử một sự déi mới công nghệ nào cũng cần sự phối hợp hoạt bắn thành phần cư bản của sông nghệ: 7, thành phần vật chất cốt lỗi của công nghệ, khi nó thay đối thì các thành phần H, I, O cũng phải tương thích mới có Ý nghĩa. Các thành phần của công nghệ có quan hệ mật thiết, bỗ sung cho nhau, không thế thiếu bất cứ thành phan nào. Nếu không hiễu chức năng và mỗi tương hỗ pitta các thành phần của công nghệ, có thể dẫn dén lang phi trong dầu tư trang thiết bị do các thành phần khác không tương xứng (hay không đồng bộ) khiến trang thiết bị, máy móc không phat huy hết tính năng của chúng.2 : Mối quan hệ giữa các thành phân công nghệ 1. ĐÃ mới công nghệ Lịch sử phát triển xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn gắn liễn với sự xuất hiên và phát triển của một loại hình kỹ thuật đặc trung quyết định sự phát triển của xã hội loài người ở giai đoạn đó.
Thời kỳ dễ đá phát triển cao hơn thời kỳ trước đó là nhờ sự xuất hiện và phát triển của các công cụ lao động bằng đã. Thời kỹ đó lại được thay thế bởi thời kỳ đồ đồng có mức độ phát triển cao hơn với sự xuất hiện và phát triển của việc sẵn xuất và sử dụng các công cụ sẵn xuất bằng dồng. Đến thế kỷ XVIH tắt cả các hệ thống +kỹ thuật mã loài người đã sử dựng lúc dé din được thay đổi đó là nguồn động lực, với sự ra đời của máy hơi nước — nguồn động lực mới thay thể nguồn động lực truyền thống là sức lực cơ bắp của son người, gia súc và một phần nhỏ sức mạnh tự nhiên như sức giỏ, sức nước.